phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 5 chƣơng: - Chƣơng 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu. - Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về khả năng sinh lợi và các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi tại ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 3: Thực trạng về khả năng sinh lợi và các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. - Chƣơng 4: Phƣơng pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
- Chƣơng 5: Giải pháp nâng cao khả năng sinh lợi tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Thông qua những phân tích, đánh giá sẽ cung cấp cho ban lãnh đạo của NHTM cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam một cái nhìn tổng quan về thực trạng khả năng sinh lợi cũng nhƣ các nhân tố có tác động đến khả năng sinh lợi tại ngân hàng trong giai đoạn 2003- 2015. Bên cạnh đó, với những kết quả nghiên cứu có đƣợc sẽ là cơ sở để ban lãnh đạo ngân hàng đề ra những giải pháp, chính sách phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa khả năng sinh lợi tại ngân hàng trong những giai đoạn phát triển tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỢI VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Chƣơng 1 đã đƣa ra tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu, phƣơng pháp và ý nghĩa của đề tài.
Tuy nhiên, để có thể đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu cần phải dựa trên một nền tảng lý thuyết khoa học vững chắc đã đƣợc kiểm chứng bởi các học giả ở cả trong và ngoài nƣớc. Vì vậy ở chƣơng 2 sẽ tập trung đề cập đến lý thuyết về khả năng sinh lợi và các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi tại ngân hàng thƣơng mại để từ đó tìm ra đƣợc các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi cũng nhƣ đề ra mô hình nghiên cứu phù hợp nhất cho đề tài. Lý thuyết về lợi nhuận và khả năng sinh lợi tại ngân hàng thƣơng mại 2. Lợi nhuận và các chỉ tiêu về lợi nhuận 2.
Khái niệm về lợi nhuận Mục tiêu truyền thống và quan trọng của ngƣời chủ doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận vì vậy những nhà kinh tế trong các phân tích của họ đều lấy lợi nhuận tối đa làm mục đích cuối cùng. Đây cũng là chỉ tiêu khá quan trọng và ảnh hƣởng trực tiếp đến các tỷ số dùng để đo lƣờng khả năng sinh lợi tại các NHTM, do đó trƣớc khi phân tích khả năng sinh lợi tại ngân hàng các nhà quản lý thƣờng lấy lợi nhuận làm tiền đề nghiên cứu đầu tiên. Theo Karl Marx, giá trị thặng dƣ hay phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hoá trong đó lao động thặng dƣ chính là lao động không đƣợc trả công của công nhân đã đƣợc vật chất hoá thì gọi là lợi nhuận. Theo nhà kinh tế học hiện đại P.Nordhaus thì định nghĩa lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi ra hoặc lợi nhuận đƣợc định nghĩa nhƣ là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí.
Nhƣ vậy, từ nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới có thể khái quát đƣợc rằng lợi nhuận chính là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà một cá nhân hoặc tổ chức bỏ ra để đạt đƣợc thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đối với ngân hàng, lợi nhuận chủ yếu đến từ hoạt động tín dụng và hoạt động phi tín dụng. Hoạt động tín dụng sẽ tạo ra nguồn thu từ lãi cho ngân hàng bao gồm lãi từ cho vay khách hàng, lãi từ đầu tƣ kinh doanh chứng khoán nợ, lãi từ cho thuê tài chính và một số khoản thu khác từ hoạt động tín dụng…Trong đó lãi từ cho vay khách hàng là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng. Bên cạnh các dịch vụ truyền thống về cho vay, ngân hàng còn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 có những khoản thu khá lớn từ các hoạt động khác nhƣ: hoạt động dịch vụ (bao gồm các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, ngân quỹ, bảo hiểm…), hoạt động kinh doanh vàng và ngoại hối, hoạt động kinh doanh mua bán chứng khoán và một số hoạt động khác nhƣ: thu hồi xử lý nợ xấu, các nghiệp vụ mua bán nợ.Các nguồn thu từ những hoạt động trên gọi chung là thu nhập ngoài lãi hay thu nhập phi tín dụng (Fadzlan Sufian, 2011).
Các chỉ tiêu về lợi nhuận - Lợi nhuận trƣớc thuế và lãi (Earnings before interest and taxes - EBIT) là một chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng thu đƣợc lợi nhuận. EBIT đƣợc tính bằng thu nhập trừ đi các chi phí, nhƣng chƣa trừ tiền lãi và thuế thu nhập doanh nghiệp. Một yếu tố quan trọng đóng vai trò giúp cho EBIT đƣợc sử dụng rộng rãi là nó đã loại bỏ sự khác nhau giữa cấu trúc vốn và tỷ suất thuế giữa các công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đã loại bỏ đƣợc lãi vay và thuế, hệ số EBIT làm rõ hơn khả năng tạo lợi nhuận của các ngân hàng và giúp các nhà đầu tƣ có thể so sánh đƣợc hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng cũng nhƣ với các công ty hoạt động trong những lĩnh vực khác.
Công thức tính: EBIT = Thu nhập - Chi phí hoạt động = Tổng doanh thu - Tổng biến phí - Tổng định phí - Lợi nhuận trƣớc thuế (Earnings before tax - EBT) là tổng lợi nhận kế toán trƣớc khi trừ đi số thuế thu nhập ƣớc tính phải trả. Lợi nhuận trƣớc thuế đƣợc sử dụng trong phân tích tài chính nhờ giúp loại bỏ đƣợc ảnh hƣởng của yếu tố thuế thu nhập doanh nghiệp do thuế thu nhập vốn có thể khác nhau theo từng khu vực, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề…Điều này sẽ giúp đánh giá đƣợc hiệu quả hoạt động, hiệu quả sử dụng vốn mà không bị vấn đề thuế làm thiên lệch. Công thức tính: EBT = Lợi nhuận từ SXKD + Lợi nhuận hoạt động tài chính + Lợi nhuận khác = Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng + Lợi nhuận từ dịch vụ + Lợi nhuận khác - Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (Earnings after tax - EAT) là phần lợi nhuận còn lại sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách Nhà nƣớc. Lợi nhuận sau thuế dùng để trích lập các quỹ đối với ngân hàng cũng nhƣ dùng để phân chia cổ tức cho các cổ đông.
Công thức tính: EAT = Lợi nhuận trƣớc thuế - thuế thu nhập doanh nghiệp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Lợi nhuận trên mỗi cổ phần (Earning Per Share - EPS) là phần lợi nhuận phân bổ cho mỗi cổ phần thông thƣờng đang đƣợc lƣu hành trên thị trƣờng. EPS đƣợc sử dụng nhƣ một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp. Công thức tính: EPS = (Lợi nhuận ròng - Tổng cổ tức ƣu đãi)/Tổng cổ phiếu thƣờng 2. Khái niệm về khả năng sinh lợi tại ngân hàng thƣơng mại Khả năng sinh lợi tại ngân hàng là thƣớc đo phản ánh khả năng tạo ra thu nhập trong việc sử dụng các nguồn lực của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định đƣợc đại diện thông qua một tập hợp các tỷ số nhƣ: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên….
Đối với nhà quản lý, khả năng sinh lợi tại ngân hàng là một trong những tỷ số quan trọng và thiết thực nhất khi nó cung cấp các thông tin cần thiết về khả năng tạo ra thu nhập của ngân hàng để từ đó ban giám đốc có thể đƣa ra những giải pháp kịp thời nhằm tạo ra những nguồn thu nhập lớn hơn trong các giai đoạn phát triển tiếp theo cho ngân hàng. Đối với chủ sở hữu và nhà đầu tƣ thì khả năng sinh lợi tại ngân hàng là mối quan tâm lớn vì khi đầu tƣ vào bất kỳ một ngân hàng nào, nguồn thu chính của chủ sở hữu và các nhà đầu tƣ là cổ tức mà cổ tức cao hay thấp lại phụ thuộc khá nhiều vào khả năng sinh lợi hàng năm tại ngân hàng. Các tỷ số đo lƣờng khả năng sinh lợi tại ngân hàng thƣơng mại 2. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return On Asset - ROA) Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản là một tỷ lệ tài chính cho thấy tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận mà ngân hàng kiếm đƣợc trong mối quan hệ với các nguồn lực tổng thể của nó.
Khả năng sinh lợi trên tài sản là một tỷ lệ lợi nhuận quan trọng, tỷ lệ này càng cao so với các đơn vị khác trong cùng ngành sẽ cho thấy đƣợc ngân hàng đang hoạt động hiệu quả, tiềm năng phát triển cao. Công thức tính: Lợi nhuận sau thuế ROA = (2.1) Tổng tài sản Từ công thức (2.1) ROA còn có thể đƣợc phân tích theo mô hình 2 nhân tố hoặc mô hình 3 nhân tố cụ thể nhƣ sau: + Mô hình 2 nhân tố: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Lợi nhuận sau thuế Tổng thu hoạt động ROA = x Tổng thu hoạt động Tổng tài sản = Tỷ lệ lãi ròng cận biên x Hiệu suất sử dụng tài sản + Mô hình 3 nhân tố: ROA = LNsau thuế LN trƣớc thuế Tổng thu hoạt động x x LN trƣớc thuế Tổng thu hoạt động Tổng tài sản Hiệu quả quản Hiệu quả kiểm Hiệu suất sử = x x trị thuế soát chi phí dụng tài sản Nhƣ vậy, ROA sẽ phụ thuộc vào chính sách thuế, hiệu quả kiểm soát chi phí và hiệu quả quản trị tài sản. Lợi nhuận sau thuế của ngân hàng cũng nhƣ các tổ chức kinh tế khác sẽ chịu tác động lớn từ mức thuế suất của Chính phủ ban hành, vì vậy trong những giai đoạn có biến động về thuế thì ROA tất nhiên cũng sẽ chịu sự tác động theo. Tuy nhiên, việc quyết định đối với chính sách thuế hoàn toàn thuộc thẩm quyền của các cơ quan nhà nƣớc nên để gia tăng ROA cho ngân hàng, ban giám đốc ngân hàng chỉ có thể thực hiện thông qua việc kiểm soát tốt các chi phí hoặc gia tăng hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng.