Chương 1 trình bày tính cần thiết của đề tài nghiên cứu, xác định các mục tiêu để nghiên cứu không đi sai hướng. Phương pháp nghiên cứu là cách thức để giả quyết các mục tiêu đặt ra. Nội dung chương này cũng trình bày phạm vi mà đề tài sẽ thực hiện về mặt nội dung, không gian, thời gian và đối tượng nghiên cứu. Kết quả mà đề tài mong đợi là tìm ra nhân tố có tác động ý nghĩa đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ nghèo, từ đó giúp hộ nghèo cải thiện mức sống.
Cuối cùng là phần kết cấu của bài nghiên cứu để người đọc tiện theo dõi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 TỔNG QUAN VỀ NGHÈO VÀ HỘ NGHÈO 2.1 Khái niệm nghèo Để đo lường tình trạng kinh tế hay mức sống có nhiều cách khác nhau để phân biệt hộ gia đình gọi là nghèo hay giàu. Nghèo được định nghĩa như là “sự thiếu hụt, hay là sự bất lực trong việc tiếp cận đến một mức sống mà xã hội chấp nhận” (FAO, 2005, trang 2). Ngân hàng thế giới cũng coi “nghèo là sự thiếu hụt hạnh phúc” (World Bank Institute, 2005, trang 9).2 Khái niệm nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối 2.1 Nghèo tương đối Nghèo tương đối được xem là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Cách tiếp cận nghèo tương đối xác định một mức sống so sánh với vị trí của các cá nhân hay hộ gia đình khác trong xã hội dựa trên phân phối thu nhập hay chi tiêu (FAO, 2005, trang 4). Cách tiếp cận này thường dẫn đến việc phân nhóm cá nhân hay hộ gia đình theo ngũ phân vị dựa trên thu nhập hay chi tiêu.2 Nghèo tuyệt đối Theo Robert McNamara, cựu Giám đốc của Ngân hàng Thế giới đã đưa ra khái niệm về nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta”. Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc – Thái Lan định nghĩa nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương.
Nghèo tuyệt đối là mức thu nhập hoặc tiêu dùng cố định dựa trên nhu cầu vật chất thiết yếu. Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ theo sức mua tương đương của địa phương so với đô la thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La Tinh và Ca-ri-bê đến 4 đô la cho những nước Đông Âu, cho đến 14,40 đô la cho các nước công nghiệp (Theo Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, 1997).3 Khái niệm hộ nghèo và phân loại chuẩn nghèo ở Việt Nam 2.1 Khái niệm hộ nghèo Hộ nghèo là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người theo tiêu chí quy định được Chính phủ công bố từng thời kỳ.2 Phân loại chuẩn nghèo Ở Việt Nam, tiêu chí xác định hộ nghèo để được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước dành cho người nghèo phải căn cứ vào chuẩn nghèo mà Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành trong từng giai đoạn. * Giai đoạn 2001-2005: Giai đoạn này chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định số 143/2000/QĐ-BLĐTBXH ngày 01/11/2000 như sau: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/tháng, tương đương 960.
+ Vùng nông thôn cho đồng bằng: 100.000 đồng/tháng hay 1. + Vùng thành thị: 150.000 đồng/tháng hay 1. * Giai đoạn 2006 – 2010: Giai đoạn này chuẩn nghèo được xác định theo Quyết định 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 + Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. + Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/tháng (3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
* Giai đoạn từ năm 2011-2015: Chuẩn nghèo được áp dụng theo quyết định 09/2011/QĐ-TTg ngày 01/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ: + Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. + Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/tháng (6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.3 Nguyên nhân nghèo Hộ nghèo thường thiếu cả vật chất lẫn tinh thần như: học vấn, lao động, khả năng tiếp cận thị trường, sức khỏe, v. Bên cạnh đó, hộ nghèo thường thiếu nguồn lực (vốn SXKD, kiến thức, tư liệu sản xuất: đất để sản xuất, công cụ lao động, v.v); trong đó thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng để SXKD là một lực cản lớn nhất trong việc thoát khỏi đói nghèo. Hộ nghèo thường không có đủ điều kiện để vay được nhiều vốn, trong khi nguồn vốn tự có khiêm tốn hoặc không có.
Thiếu vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới. Mặc dù các dự án tín dụng cho người nghèo thuộc chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia, khả năng tiếp cận tín dụng đã tăng lên rất nhiều. Song vẫn còn khá nhiều hộ nghèo, đặc biệt là những hộ rất nghèo không có khả năng tiếp cận với các nguồn tín dụng chính thức. Một mặt, hộ nghèo không có tài sản thế chấp, họ phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp dẫn đến làm giảm khả năng hoàn vốn.
Mặt khác, đa số hộ nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng các nguồn vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn và cuối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cùng họ càng nghèo hơn. Những hộ nghèo thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc liên quan đến pháp luật. Hộ nghèo thường gặp khó khăn và thiếu tự tin trong việc giải quyết các vấn đề của chính bản thân mình. Về mặt giao tiếp xã hội, hộ nghèo thường quan hệ với những người nghèo như mình hoặc nghèo hơn.
Họ không tạo mối quan hệ với những người khá giả hoặc giàu hơn mình. Từ đó càng làm hạn chế về khả năng tiếp cận tư duy mới, cũng như kinh nghiệm làm kinh tế giỏi. Đây là một cản trở lớn để họ thoát nghèo. Ngoài ra, phần lớn hộ nghèo có kiến thức và kỹ năng về sản xuất yếu, phương pháp canh tác truyền thống đã ăn sâu vào tiềm thức.
Họ chưa có nhiều kiến thức về sản phẩm cũng như sản xuất hàng hóa.2 LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG NÔNG THÔN 2.1 Khái niệm tín dụng Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi theo đúng thời gian đã thỏa thuận. Phần lãi hay còn gọi là lãi suất tín dụng là phần giá trị lớn hơn giá trị mà người đi vay đã nhận phải trả cho người cho vay. Quan hệ tín dụng ở bất cứ nơi nào cũng thể hiện ở 3 mặt cơ bản: - Có sự chuyển giao quyền sở hữu từ người này sang người khác - Sự chuyển giao này chỉ mang tính chất tạm thời - Khi đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu, phần giá trị tăng thêm này gọi là phần lời hay lãi suất.2 Thị trường tín dụng nông thôn Ở nước ta, nông nghiệp phát triển rất mạnh tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ trong nước và xuất khẩu sang các nước khác. Nhưng đa số người tham gia sản xuất nông nghiệp thường là những người nông dân, các cơ sở kinh doanh nhỏ; do đó nguồn vốn kinh doanh của họ bị hạn chế.
Chính vì điều này, hệ thống tín dụng nông thôn đã ra đời. Mục tiêu cuối cùng của hệ thống tín dụng nông thôn là đáp ứng yêu cầu vốn cho nông dân với lãi suất hợp lý. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Thị trường tín dụng nông thôn là nơi diễn ra hoạt động cung cầu vốn tín dụng giữa các chủ thể cho vay vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tín dụng phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn. Hệ thống tín dụng nông thôn bao gồm các định chế chính thức, bán chính thức và không chính thức.
Như vậy, cải thiện hiệu quả hoạt động của thị trường tín dụng nông thôn chính là tùy thuộc vào hiệu quả hoạt động của các định chế này. Thị trường tín dụng chính thức là nơi diễn ra công khai các hoạt động huy động, cung ứng và giao dịch vốn, tuân thủ pháp luật Nhà nước. Lực lượng tham gia cung ứng vốn trên thị trường này là các trung gian tài chính như hệ thống ngân hàng, kho bạc, quỹ tín dụng nhân dân, v. Lực lượng tham gia cầu vốn tín dụng là hộ gia đình, chủ thể sản xuất kinh doanh ở khu vực nông thôn.1 Các đặc điểm của tín dụng nông thôn - Thị trường tín dụng nông thôn trải ra trên địa bàn rộng lớn, số lượng khách hàng đông đảo vừa thúc đẩy quá trình huy động vốn, cho vay vốn vừa cản trở quá trình này.
Đây là khu vực kinh tế rộng lớn, nhiều tiềm năng, lượng khách cung cầu vốn tín dụng đông đảo và chuyên về sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề phi nông nghiệp khác. Phát triển sẽ thúc đẩy quá trình tiết kiệm và đầu tư.