mở đầu của Kế hoạch hành động 5 năm 2006 – 2010 với nhiều sự kiện quốc tế, đặc biệt là hội nghị cấp cao APEC được tổ chức tại Việt Nam. Năm du lịch quốc gia 2006 với sự kiện nổi bật “Quảng Nam - một điểm đến, 2 di sản” và nhiều sự kiện khác sẽ là cơ sở cho ngành du lịch đạt mức 6 triệu khách du lịch quốc tế vào năm 2010. Tóm lại, ngành du lịch Việt Nam rất có tiềm năng phát triển thành một ngành dịch vụ mang lại nhiều lợi ích quốc gia như việc làm, nguồn thu ngoại tệ,v. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại trong việc phát triển ngành du lịch bao gồm hạ tầng lạc hậu, hệ thống giao thông yếu kém, thiếu sự hợp tác giữa các cấp chính quyền, thủ tục hải quan rườm rà,.
Yếu tố luật pháp Ngoài một số luật được ban hành liên quan đến phát triển kinh tế, tháng 6/2005, Luật Du lịch - sau một thời gian dài soạn thảo, thu nhận ý kiến và điều chỉnh - đã được ban hành. Luật Du lịch đã toàn diện hơn rất nhiều so với Pháp lệnh về Du lịch năm 1999. Luật chính là một cơ sở quan trọng để phát triển ngành du lịch trở thành một ngành mũi nhọn của nền kinh tế. Luật này đã có hiệu lực từ tháng 1/2006.
Ngành du lịch và khách sạn tại Thành phố Hồ Chí Minh 1. Đặc điểm kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 0.6% tổng diện tích, 6.6% dân số của cả nước và là một thành phố quan trọng của Vùng Kinh tế Động lực Phía Nam (“SFEZ”) cùng với các tỉnh khác như Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Long An, Tây Ninh và Bình Phước. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất nước. Là một thành phố có nền kinh tế năng động, TPHCM luôn đạt được thành tựu cao trong các hoạt ______________________________________________________________________________________________ 23 ______________________________________________________________________________________ động kinh tế và luôn dẫn đầu trong tăng trưởng kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố trong năm 2005 là 12.2%, vượt chỉ tiêu đề ra là 12% và là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1998. Năm 2005, lĩnh vực dịch vụ tăng 11.1%, công nghiệp và xây dựng tăng 14.5% và đóng góp 6% cho tăng trưởng tổng thể. Mặt khác, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, GDP của TPHCM đóng góp một phần ba GDP cả nước với tổng giá trị đạt hơn 169.6 tỷ đồng so với 393 tỷ đồng của cả nước. Thành phần kinh tế quốc doanh là thành phần chủ đạo đóng góp 45% GDP theo sau là thành phần ngoài quốc doanh với 34%, khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp 21%[6].
Ngoài ra, được xem là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (SFEZ) và là trung tâm của cả phía Nam, TPHCM đóng góp 66.1% GDP của SFEZ[6]. Theo chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2010 và hướng tới 2020, TPHCM hướng tới trở thành thành phố công nghiệp vào năm 2015 và là trung tâm kinh tế của SFEZ và của cả nước. Tăng trưởng GDP của thành phố trong giai đoạn 2006 – 2010 sẽ đạt 11.7% Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực năm 1987, TPHCM đã trở thành một trong những điểm thu hút vốn FDI hàng đầu Việt Nam. Gần một phần ba tổng số dự án FDI được đầu tư vào TPHCM.
Đến thời điểm cuối năm 2005, TPHCM đã tiếp nhận 2,155 dự án FDI với tổng vốn đạt khoảng 14 tỷ USD, so với 5,918 dự án và tổng vốn 50.5 tỷ USD của cả nước. Xét về số lượng dự án thì Đài Loan là nhà đầu tư hàng đầu của TPHCM với 378 dự án, theo sau là Hàn Quốc với 343 dự án và Nhật Bản với 196 dự án. Xét về vốn thì Hong Kong đứng đầu với 2.35 tỷ USD, theo sau là Đài Loan với 2.29 tỷ USD và Singapore với 1.3: Những nhà đầu tư hàng đầu tại TPHCM Nation Số dự án Tổng vốn (US$ triệu) Đài Loan 378 2,293.2 (Nguồn : Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Thương mại TPHCM ) Về thương mại, TPHCM là một trong những trung tâm xuất nhập khẩu lớn của cả nước. Xuất nhập khẩu của thành phố chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch của cả nước.
TPHCM còn là trung tâm của hoạt động lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu khi khối lượng lưu chuyển qua các cảng biển của thành phố tăng 11% lên 25 triệu tấn trong năm 2004, chiếm 1/3 trên tổng số 73 triệu tấn của cả nước. Năm 2005, xuất khẩu của thành phố tăng 26.5% so với năm 2004, đạt 12.417 tỷ USD, chiếm hơn 1/3 kim ngạch 36.66 tỷ USD của Việt Nam. Ngoài ra, thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm ngân hàng, tài chính lớn nhất nước, dẫn đầu về số lượng ngân hàng và doanh thu từ dịch vụ tài chính – tín dụng chiếm 1/3 doanh thu từ ngành ngân hàng của cả nước. Năm 2004, các ngân hàng thương mại của thành phố đã đạt tổng cộng 2.56 ngàn tỷ đồng, tăng 59% so với năm 2003.
Các ngân hàng đã thu hút được 147.5 ngàn tỷ đồng (tăng 29,4%) và cho vay 136 ngàn tỷ đồng (tăng 34. Trong tương lai, TPHCM sẽ đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như cơ khí chế tạo, công nghệ sinh hóa, công nghệ thông tin, tài chính – ngân hàng, các ngành công nghệ cao và du lịch. Tổng quan ngành du lịch và khách sạn tại TPHCM 1. Ngành du lịch Nhờ vào vị trí trung tâm của cả vùng miền Nam, Thành phố Hồ Chí Minh đã có những mức tăng trưởng mạnh mẽ cho ngành du lịch.
Từ năm 1990, doanh thu ngành du lịch thành phố luôn chiếm từ 28% đến 35% doanh thu du lịch của cả nước. Năm 2005, lần đầu tiên TP. Hồ Chí Minh đón hơn 2 triệu lượt khách quốc tế (trong tổng số khoảng 3.43 triệu khách của cả nước), tăng 27% so với năm 2004 và tổng doanh thu toàn ngành du lịch thành phố đạt 13,350 tỷ đồng, lượng khách du lịch nội địa cũng đạt 3 triệu. Những con số này đã khẳng định vị trí dẫn đầu cả nước của ngành du lịch TPHCM Bảng 1.4: Lượt khách quốc tế đến TPHCM giai đoạn 2001 – 2005 LƯỢT TỔNG SỐ TỐC ĐỘ ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG ĐƯỜNG KHÁCH ĐẾN (lượt HÀNG BIỂN BỘ TPHCM người) % KHÔNG 2001 1,226,400 +11,5 1,066,64 12,581 147,17 2002 1,433,000 +16.
Xét về thị trường khách, 10 thị trường khách hàng đầu là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đài Loan, Úc, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp, Singapore, Malaysia và Canada. ______________________________________________________________________________________________ 26 ______________________________________________________________________________________ Các thị trường khách đều có tỷ lệ tăng trưởng khá từ 10-15% so với cùng kỳ. Trong đó tăng mạnh và ổn định nhất là các thị trường Nga (70%), Trung Quốc (38%), Singapore (31%), Hàn Quốc (24%), Canada (20%). Thị trường Nga - chủ yếu là khách đoàn đi theo loại hình MICE – tuy chưa lọt vào bảng “Top ten” nhưng hứa hẹn sẽ có bước phát triển nhanh nếu như làm tốt công tác quảng bá hình ảnh Việt Nam ngay tại Nga.
Không chỉ đón khách nước ngoài đến mà TP. Hồ Chí Minh còn được biết đến như một trung tâm tổ chức du lịch, dã ngoại, vui chơi giải trí… của cả nước với nhiều loại hình phong phú. Năm 2005, ngành du lịch thành phố dành gần 10 tỉ đồng cho các hoạt động xúc tiến quảng bá thu hút khách du lịch đến TPHCM. Nguồn kinh phí trên tập trung cho việc tổ chức các sự kiện lớn của thành phố như: Lễ hội đường hoa; Ngày hội du lịch TPHCM; Lễ hội trái cây Nam bộ; Liên hoan món ăn ngon các nước.
Ngoài ra, thành phố còn phối hợp với Vietnam Airlines, Hiệp hội Du lịch tổ chức các chương trình quảng bá tại các thị trường trọng điểm. Theo Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh, trong năm 2006, thành phố đặt chỉ tiêu đón 2.3 triệu lượt khách quốc tế, 3.5 triệu lượt khách nội địa, công suất phòng các khách sạn từ 3 đến 5 sao đạt 75% và tổng doanh thu toàn ngành đạt 16,000 tỷ đồng. Ngành du lịch thành phố cũng đã xây dựng xong kế hoạch miễn visa cho du khách của thị trường Pháp và châu Âu; tăng cường biện pháp để tạo được sự thông thoáng cho hoạt động doanh nghiệp và cũng tăng cường thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh xây dựng môi trường du lịch an toàn, lành mạnh; có chính sách hoàn thuế VAT theo thông lệ quốc tế; khôi phục tua xích lô theo lộ trình phù hợp; tăng cường các hoạt động giải trí về đêm. Ngoài ra, thành phố đã có kế hoạch xây dựng trung tâm hội nghị, hội chợ, hội thảo để thu hút lượng khách tiềm năng là doanh nhân.
Với những nỗ lực của mình, ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu cùng với cả nước đưa Việt Nam trở thành một điểm đến an toàn và thân thiện, góp phần cùng với cả nước đạt con số 6 triệu khách du lịch quốc tế vào năm 2010 ______________________________________________________________________________________________ 27 ______________________________________________________________________________________ 1. Dịch vụ lưu trú du lịch tại TPHCM Trong tình hình cạnh tranh mạnh mẽ hiện nay, nhiều khách sạn đặc biệt là các khách sạn từ 3- 5 sao đã và đang đầu tư nâng cao chất lượng, đa dạng hóa dịch vụ, mở rộng quy mô kinh doanh nhằm hướng đến khách du lịch MICE như khách sạn Park Hyatt và Windsor với 664 phòng đăng ký xếp hạng 5 sao. Bên cạnh 10 khách sạn từ 4-5 sao đã tham gia câu lạc bộ MICE, thành phố có 23 khách sạn quốc tế cao cấp đủ tiêu chuẩn phục vụ các đoàn khách lớn với 36 phòng họp cho các hội nghị trên 1000 khách. Các khách sạn lớn ngày càng quan tâm đến công tác tiếp thị, chủ động triển khai các hoạt động quảng bá.
Một số khách sạn liên kết với ngành hàng không để chào bán sản phẩm liên kết “vé máy bay + phòng khách sạn” như Công ty cổ phần khách sạn Quê Hương liên kết với hãng hàng không Pacific Airlines. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý môi trường và các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc điều hành kinh doanh đang được các khách sạn quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng năng lượng tiết kiệm, góp phần bảo vệ môi trường. Cụ thể như khách sạn Sài Gòn với mô hình đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời được đánh giá có hiệu quả, được một số khách sạn lớn học hỏi để áp dụng trong thời gian tới. Ngoài ra, đã có 15 khách sạn trên địa bàn thành phố triển khai công tác quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000.