Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phân tích và đánh giá hàm lượng kim loại nặng ở các pha khác nhau trong môi trường nước và trầm tích sông thuộc tỉnh hải dương

Luận văn thạc sĩ phân tích hàm lượng kim loại nặng trong nước và trầm tích sông Hải Dương, đánh giá tác động môi trường và sức khỏe.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa phân tích

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

160
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về ô nhiễm kim loại nặng trong nước, trầm tích và địa điểm nghiên cứu

1.2. Ô nhiễm kim loại nặng trong nước

1.3. Ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích

1.4. Trao đổi kim loại nặng giữa nước và trầm tích. Tổng quan địa điểm nghiên cứu

1.5. Đặc điểm địa hình và hệ thống thủy văn

1.6. Đặc điểm hoạt động công nghiệp, nông nghiệp

1.7. Hiện trạng môi trường nước sông tỉnh Hải Dương. Nghiên cứu nước chiết lỗ rỗng trong trầm tích

1.8. Khái niệm nước chiết lỗ rỗng và thiết bị lấy nước chiết lỗ rỗng. Các yếu tố vật lý ảnh hưởng đến cân bằng của peeper

1.9. Tình hình nghiên cứu kim loại nặng trong nước chiết lỗ rỗng trên thế giới và trong nước

1.10. Xác định dạng liên kết kim loại trong trầm tích

1.11. Khái niệm, vai trò và ứng dụng của xác định dạng liên kết kim loại

1.12. Nguyên tắc quy trình chiết tuần tự các phân đoạn (SEP)

1.13. Một số quy trình chiết rút các dạng liên kết kim loại

1.14. Phương pháp xác định tổng hàm lượng kim loại nặng bằng ICP-MS

1.15. Khái niệm về phương pháp ICP-MS

1.16. Các yếu tố ảnh hưởng đến cường độ vạch phổ trong phép đo ICP-MS. Một số nghiên cứu về kim loại nặng bằng phương pháp ICP-MS

1.17. Một số phương pháp đánh giá mức độ ô nhiễm kim loại nặng. Phân tích tương quan hàm lượng kim loại nặng trong nước và trầm tích

1.18. Chỉ số ô nhiễm CF

1.19. Chỉ số đánh giá rủi ro RAC

1.20. Thông số đánh giá chất lượng trầm tích SQGs

1.21. Đánh giá nguồn gốc phát tán kim loại nặng

1.22. Phân tích thành phần chính (PCA)

1.23. Phân tích nhân tố (FA)

1.24. Phân tích nhóm (CA)

1.25. Ứng dụng của phân tích thống kê đa biến trong xác định nguồn gốc, phân loại chất ô nhiễm trong môi trường

1.26. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Hóa chất, dụng cụ và thiết bị thí nghiệm

2.2. Dụng cụ, thiết bị

2.3. Địa điểm lấy mẫu

2.4. Phương pháp lấy mẫu

2.5. Mẫu nước mặt

2.6. Mẫu nước chiết lỗ rỗng

2.7. Mẫu trầm tích cột

2.8. Phân tích hàm lượng kim loại bằng phương pháp ICP-MS

2.9. Điều kiện đo trên thiết bị ICP - MS

2.10. Lựa chọn đồng vị đo và phương trình hiệu chỉnh

2.11. Lựa chọn dung dịch axit làm môi trường mẫu

2.12. Khảo sát một số thông số làm việc của thiết bị

2.13. Đánh giá phương pháp phân tích

2.14. Xây dựng đường chuẩn

2.15. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ)

2.16. Đánh giá độ chính xác

2.17. Xử lý thống kê số liệu phân tích

2.18. Đánh giá sự khác nhau có nghĩa về hàm lượng kim loại nặng theo độ sâu trong môi trường nước. Đánh giá tương quan

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Xác định đồng thời hàm lượng các kim loại nặng bằng phương pháp ICP-MS. Tối Ưu hóa các điều kiện đo của thiết bị ICP-MS

3.2. Ảnh hưởng của công suất cao tần

3.3. Ảnh hưởng của thế thấu kính ion

3.4. Ảnh hưởng của lưu lượng khí mang

3.5. Xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp

3.6. Xây dựng các đường chuẩn

3.7. Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng

3.8. Độ chính xác của phương pháp

3.9. Đánh giá phân bố hàm lượng kim loại nặng trong nước mặt

3.10. Hàm lượng kim loại nặng trong lớp nước mặt ở độ sâu 15cm

3.11. Hàm lượng kim loại nặng trong nước mặt ở độ sâu 30 cm

3.12. Hàm lượng kim loại nặng trong lớp nước sát trầm tích

3.13. Đánh giá sự sai khác hàm lượng kim loại trong nước mặt theo độ sâu

3.14. Phân bố hàm lượng kim loại nặng trong nước chiết lỗ rỗng

3.15. Đánh giá hàm lượng trung bình của kim loại nặng trong nước chiết lỗ rỗng

3.16. So sánh hàm lượng trung bình của kim loại nặng trong nước mặt và trong nước chiết lỗ rỗng

3.17. Đánh giá tương quan hàm lượng các kim loại nặng trong nước chiết lỗ rỗng tại từng điểm nghiên cứu

3.18. Phân bố hàm lượng kim loại nặng trong nước chiết lỗ rỗng theo độ sâu

3.19. Phân bố kim loại nặng trong các pha liên kết trong trầm tích cột

3.19.1. Nhóm Cd, Cu, Pb

3.19.2. Nhóm Fe, Mn

3.19.3. Nhóm Zn, Co, Ni, Cr

3.20. Phân tích tương quan hàm lượng của các kim loại

3.21. Sự phân bố của kim loại nặng giữa nước chiết lỗ rỗng và trầm tích

3.22. Đánh giá môi trường trầm tích thông qua các chỉ số về ô nhiễm môi trường

3.23. Chỉ số ô nhiễm CF

3.24. Chỉ số đánh giá nguy cơ môi trường RAC

3.25. Thông số đánh giá chất lượng trầm tích SQGs

3.26. Đánh giá nguồn gốc và phân bố hàm lượng kim loại nặng

3.27. Đánh giá nguồn gốc kim loại nặng trong nước lỗ rỗng

3.28. Đánh giá nguồn gốc kim loại nặng trong trầm tích

3.29. Kết luận chương 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân tích kim loại nặng trong nước và trầm tích Hải Dương

Phân tích kim loại nặng trong nước và trầm tích là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường. Kim loại nặng như chì, cadmium, và thủy ngân có thể gây hại cho sức khỏe con người và hệ sinh thái. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định hàm lượng kim loại nặng trong các pha khác nhau của môi trường nước và trầm tích tại tỉnh Hải Dương.

1.1. Đặc điểm ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường nước

Ô nhiễm kim loại nặng trong nước thường xảy ra do hoạt động công nghiệp và nông nghiệp. Các kim loại nặng có thể tồn tại dưới dạng ion hòa tan hoặc kết tủa, gây ảnh hưởng đến chất lượng nước và sức khỏe cộng đồng.

1.2. Tình hình ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích

Trầm tích là nơi tích tụ các kim loại nặng từ nước. Việc phân tích trầm tích giúp hiểu rõ hơn về nguồn gốc và mức độ ô nhiễm, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục hiệu quả.

II. Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng tại Hải Dương và thách thức hiện tại

Hải Dương là một tỉnh có nhiều hoạt động công nghiệp và nông nghiệp, dẫn đến tình trạng ô nhiễm kim loại nặng nghiêm trọng. Việc xác định nguồn gốc và mức độ ô nhiễm là một thách thức lớn cho các nhà nghiên cứu và quản lý môi trường.

2.1. Nguyên nhân chính gây ô nhiễm kim loại nặng

Các hoạt động sản xuất công nghiệp, sử dụng hóa chất trong nông nghiệp và quản lý chất thải không đúng cách là những nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm kim loại nặng tại Hải Dương.

2.2. Hệ quả của ô nhiễm kim loại nặng

Ô nhiễm kim loại nặng không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng nước mà còn tác động xấu đến sức khỏe con người và hệ sinh thái. Các bệnh liên quan đến kim loại nặng ngày càng gia tăng, đòi hỏi sự quan tâm và hành động kịp thời.

III. Phương pháp phân tích kim loại nặng trong nước và trầm tích

Để phân tích kim loại nặng, nhiều phương pháp hiện đại được áp dụng, trong đó có phương pháp ICP-MS. Phương pháp này cho phép xác định chính xác hàm lượng kim loại nặng trong các mẫu nước và trầm tích.

3.1. Phương pháp ICP MS trong phân tích kim loại nặng

ICP-MS (Inductively Coupled Plasma Mass Spectrometry) là một trong những phương pháp phân tích chính xác và nhạy nhất hiện nay. Phương pháp này giúp xác định đồng thời nhiều kim loại nặng trong mẫu.

3.2. Quy trình lấy mẫu và xử lý mẫu

Quy trình lấy mẫu và xử lý mẫu là bước quan trọng trong nghiên cứu. Việc sử dụng peeper để lấy mẫu nước chiết lỗ rỗng trong trầm tích giúp đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy của kết quả phân tích.

IV. Kết quả nghiên cứu về hàm lượng kim loại nặng tại Hải Dương

Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong nước và trầm tích tại Hải Dương vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Điều này cho thấy mức độ ô nhiễm nghiêm trọng và cần có biện pháp khắc phục kịp thời.

4.1. Phân bố hàm lượng kim loại nặng trong nước

Hàm lượng kim loại nặng trong nước mặt tại các điểm lấy mẫu cho thấy sự biến động lớn, với một số điểm có hàm lượng vượt quá giới hạn cho phép.

4.2. Phân bố hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích

Trầm tích tại Hải Dương cũng cho thấy hàm lượng kim loại nặng cao, đặc biệt là ở các khu vực gần nguồn thải. Điều này cho thấy sự tích tụ của kim loại nặng trong môi trường.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nghiên cứu ô nhiễm kim loại nặng

Nghiên cứu ô nhiễm kim loại nặng tại Hải Dương cần được tiếp tục để theo dõi và đánh giá tình hình ô nhiễm. Các biện pháp quản lý và khắc phục cần được triển khai để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

5.1. Đề xuất biện pháp khắc phục ô nhiễm

Cần có các biện pháp quản lý chất thải hiệu quả, tăng cường giám sát ô nhiễm và nâng cao nhận thức cộng đồng về ô nhiễm kim loại nặng.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc phát triển các mô hình dự báo ô nhiễm và đánh giá tác động của ô nhiễm kim loại nặng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phân tích và đánh giá hàm lượng kim loại nặng ở các pha khác nhau trong môi trường nước và trầm tích sông thuộc tỉnh hải dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu) - Chỉ số COD và BOD5 ở hầu hết các vị trí nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên có một số điểm nghiên cứu có chỉ số cao, đáng quan tâm. Có hai vị trí có chỉ số vƣợt quá mức cho phép, đây cũng là dấu hiệu cảnh báo đối với hiện tƣợng ô nhiễm cục bộ. - Đối với hàm lƣợng NH4+-N, NO2--N, tổng lƣợng dầu mỡ có dấu hiệu ô nhiễm bởi sự vƣợt quá hàm lƣợng cho phép ở nhiều điểm quan trắc và lặp lại trong 2 năm.

Ví dụ: tổng lƣợng dầu mỡ vƣợt QCVN08-MT:2015/BTNMT ở các khu vực gần cảng tập kết hàng hóa, nhiều tàu thuyền hoạt động vận chuyển hoặc bơm hút cát; hàm lƣợng NH4+-N cao hơn mức cho phép ở những điểm quan trắc gần khu đông dân cƣ, bị ảnh hƣởng bởi nƣớc thải từ sinh hoạt, chăn nuôi, làng nghề ; các điểm có hàm lƣợng cao NO2--N tập trung trên sông Bắc Hƣng Hải, là hệ thống tƣới tiêu cho nông nghiệp, do vậy thƣờng xuyên tiếp nhận dƣ lƣợng phân bón hóa học. Nghiên cứu nƣớc chiết lỗ rỗng trong trầm tích 1. Khái niệm nƣớc chiết lỗ rỗng và dụng cụ lấy nƣớc chiết lỗ rỗng. Nƣớc chiết lỗ rỗng là dung dịch thu đƣợc từ buồng mẫu trong dụng cụ lấy mẫu trầm tích, có hàm lƣợng, thành phần hóa học và các thông số lý hóa giống nhƣ dung dịch trong lòng trầm tích.

Dụng cụ lấy mẫu gọi là peeper, khắc phục đƣợc những khó khăn khi lấy mẫu nƣớc trong trầm tích, đồng thời cần đáp ứng những yêu cầu sau: (1) Thể tích đủ lớn (V, cm3) cho các thí nghiệm cần thiết; (2) Bề mặt ngăn chứa (A, cm2) đủ lớn để giảm sự tác động của cấu tạo lớp địa chất; (3) Khoảng cách giữa các ngăn (l, cm) đủ nhỏ để nghiên cứu các lớp trầm tích; (4) Việc đặt peeper tại vị trí khảo sát ít gây tác động về mặt vật lí và hóa học cho lớp địa chất tại nơi đo; (5) Thời gian để đạt tới cân bằng đủ ngắn, nằm trong khung thời gian tiến hành khảo sát [107]. Sau một thời gian đặt peeper vào trầm tích, khi đạt cân bằng giữa 2 phần dịch bên trong peeper và môi trƣờng, peeper đƣợc thu hồi và đƣa về phòng thí nghiệm để phân tích hàm lƣợng kim loại có trong nƣớc chiết lỗ rỗng. Thời gian để đạt tới cân bằng đƣợc xác định bởi yếu tố thiết kế (F, cm) theo công thức: F = V/A, với giá trị 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com F càng nhỏ thì thời gian đạt trạng thái cân bằng càng ngắn. Điều này đƣợc chứng minh khi khảo sát tốc độ cân bằng K+ [107] thể hiện ở hình 1.1 Fmin Fmax Hình 1.

Tốc độ đạt trạng thái cân bằng Hình 1.2 mô tả một số dạng thiết kế của peeper thƣờng đƣợc sử dụng để lấy mẫu nƣớc chiết trong trầm tích. Các thiết kế peeper a) Peeper dùng chai đựng mẫu. b) Peeper theo kiểu Hesslein 1 mặt. c) Peeper theo kiểu Hesslein 2 mặt.

d) Peeper sử dụng trong nghiên cứu này.2 a) đƣợc chế tạo bằng chai có lỗ đƣợc bọc màng hoặc cốc làm bằng poly-ethylene có miệng bọc màng có F cao vì V thƣờng rất cao. Peeper 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phổ biến đƣợc Hesslein phát triển (Hình 1.2 b) có khoảng cách giữa các ngăn chứa mẫu thƣờng là 1cm, có thể thu hẹp lại bằng cách thêm các hàng nhỏ hơn và tâm các hàng chồng lên nhau. Nếu muốn tăng thể tích mà không phải tăng F hoặc l có thể dùng peeper Hesslein hai màng (hình 1. Peeper dạng này dễ chế tạo, thƣờng dùng cho nghiên cứu cần giá trị F rất nhỏ và thể tích V cần dùng là nhỏ.

Bề rộng của peeper Hesslein loại này thƣờng là 8 cm, độ dài ngăn thƣờng là 6,5 cm. Độ dài của peeper phải hơn độ dày của lớp địa chất muốn khảo sát 10 cm về hai phía, thông thƣờng có độ dài từ 30 cm đến 100 cm. Peeper đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này đƣợc mô tả ở hình 1.2d có chiều dài 66 cm, thời gian đạt cân bằng là 20 ngày [107]. Các yếu tố vật lý ảnh hƣởng đến cân bằng của peeper Việc trao đổi chất trong nƣớc chiết lỗ rỗng diễn ra chậm hơn so với nƣớc mặt là do ảnh hƣởng của lớp địa chất và dòng chảy.

Hai yếu tố trên bị chi phối bởi quá trình hóa học nhƣ phân hủy và thẩm thấu, các hoạt động của vi sinh vật và thay đổi theo địa chất, địa hình. Thời gian đạt cân bằng của peeper loại Hesslein là 2 tuần. Tùy từng vùng khảo sát mà có thể có thời gian đạt cân bằng khác nhau và cần phải đƣợc đánh giá riêng cho từng vùng. Tác giả Peter Santschi [108] cho biết trao đổi của chất hòa tan hoặc muối kim loại đƣợc có thể đƣợc biểu hiện qua phƣơng trình: Trong đó: Cz và Ceq là nồng độ của nƣớc chiết lỗ rỗng tại độ sâu z và nồng độ ở trạng thái cân bằng (mol/kg).

Ds là hệ số khuếch tán thực của trầm tích (cm2/s). Ảnh hƣởng của các yếu tố nhƣ kích cỡ, thể tích của ngăn chứa đến tốc độ cân bằng thể hiện qua công thức: (F là yếu tố thiết kế, kM là hệ số thẩm thấu của màng) (1.2) Tốc độ cân bằng các chất khác nhau có thể không giống nhau cho cùng một peeper. Ví dụ với khảo sát lƣu vực cửa sông thì peeper có F = 1,0 cm cần 8 ngày để đạt tới trạng thái cân bằng 90 % ion K+ nhƣng ion Fe2+ cần 12-13 ngày. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Tình hình nghiên cứu kim loại nặng trong nƣớc chiết lỗ rỗng trên thế giới và trong nƣớc Với quy trình cổ điển, mẫu nƣớc lỗ rỗng sẽ đƣợc chiết bằng cách li tâm [70], nhƣng phƣơng pháp này có hiệu suất chiết theo độ sâu kém [107]. Một phƣơng pháp khác bằng cách sử dụng xi lanh thủy lực hút nƣớc lỗ rỗng và lọc qua màng [124]. Các cách lấy mẫu trên có thể làm mất mẫu hoặc làm thay đổi thành phần hóa, lý của nƣớc lỗ rỗng do các quá trình nhƣ: sự oxi hóa, hòa tan, sự thay đổi áp suất, nhiệt độ và sự nhiễm bẩn., làm sai lệch kết quả đánh giá hàm lƣợng và quá trình vận chuyển của kim loại nặng trong nƣớc và trầm tích. Hiện nay, kĩ thuật sử dụng peeper đã đƣợc phát triển và ứng dụng khá nhiều trong các công trình khoa học trên thế giới.

Khi nghiên cứu sự biến đổi hàm lƣợng kim loại nặng trong nƣớc lỗ rỗng theo độ sâu trầm tích bằng peeper [137] cho thấy, nồng độ của kim loại nặng tăng theo độ sâu; kim loại Cu có độc tính cao với thủy sinh. Đồng thời, với giá trị hàm lƣợng kim loại cao và thông lƣợng khuếch tán (DF) lớn đƣợc cho là do nguồn phát thải ô nhiễm nông nghiệp và cống rãnh nội đô vào sông Fuyang. Với việc sử dụng peeper đã nghiên cứu thành công và giải thích chu trình chuyển hóa của As và Cu ở nƣớc lỗ rỗng trong trầm tích [103], đồng thời ứng dụng nghiên cứu này để phân tích lƣợng vết các kim loại Fe, Mn, U, Mo. Nghiên cứu mang ý nghĩa lớn trong việc đánh giá sự trao đổi của Cu và As với lớp trầm tích cát và bùn sâu trong một thời gian dài: Fe, Mn, Mo và As ở lớp cát đƣợc giải phóng vào dung dịch và phân tán lên trầm tích mặt và kết tủa ở vùng trung gian giữa bùn và cát.

Ứng dụng peeper trong phân tích kim loại nặng trong nƣớc lỗ rỗng để nghiên cứu ảnh hƣởng của dòng thủy triều lên sự thay đổi tổng hàm lƣợng (Hg) và (metylHg) giữa pha trầm tích và cột nƣớc [60] hoặc nghiên cứu dạng liên kết của Cr (Cr III và Cr VI) ở khu vực ô nhiễm do các xƣởng làm da, các nhà máy mạ kim loại [39]. Xác định nhanh hàm lƣợng photphat hòa tan và ion sắt bằng peeper nhằm nghiên cứu ảnh hƣởng của thời gian và các điều kiện tự nhiên lên kết quả phân tích. Ngoài phƣơng pháp sử dụng peeper để nghiên cứu nƣớc chiết lỗ rỗng còn có thêm những phƣơng pháp khác [55] nhƣ sau: Phƣơng pháp khuếch tán cân bằng trong màng mỏng (diffusive equilibration in thin film - DET) sử dụng đầu đo đƣợc gắn vào dụng cụ để làm thân đỡ để đặt 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xuống khu vực nghiên cứu. Đầu đo DET có thể chế tạo theo kích thƣớc tùy ý gồm hai lớp: lớp màng lọc và lớp gel khuếch tán.

Thông thƣờng đƣợc chế tạo với kích thƣớc trung bình là 180 × 40 mm với diện tích cửa sổ là 150 × 18 mm để tiếp xúc với trầm tích. Đầu đo DET có chứa 75 khe chứa mẫu với bề rộng 1mm và khoảng cách giữa mỗi khe chứa mẫu là 1mm [55] [64]. Sau 24 giờ đặt ở địa điểm lấy mẫu, đầu đo DET đƣợc lấy về phòng thí nghiệm, bề mặt đƣợc rửa sạch bằng nƣớc cất hai lần, lấy 75 que gel điện di (khoảng 20 microlit) ra khỏi đầu đo và chuyển vào các ống nghiệm. Tán mẫu bằng cách thêm 1 ml HNO3 1M sau đó thêm nƣớc cất tinh khiết hoặc nƣớc de-ion vào cho đủ 5 ml và phân tích bằng ICP-MS.

Trong phƣơng pháp DET thì kim loại từ nƣớc chiết lỗ rỗng sẽ khuếch tán vào lớp gel cho tới khi đạt trạng thái cân bằng nồng độ. Mẫu thu đƣợc phụ thuộc vào kích cỡ của lỗ màng ngoài và kích cỡ của phân tử gel. Với phƣơng pháp này thì việc chọn chất mẫu để hấp thu riêng là điều không thể, vì mọi kim loại sẽ đƣợc hấp thu với điều kiện là lỗ hấp thu trên gel cho phép. Phƣơng pháp này cần thời gian lấy mẫu dài, có thể cung cấp thông tin về nồng độ của tất cả các chất hòa tan, tuy nhiên nó khá cầu kì và không kinh tế.

Phƣơng pháp gradient khuếch tán trong màng mỏng (diffusive gradients in thin films - DGT) cũng sử dụng một đầu đo tƣơng tự nhƣ trong phƣơng pháp DET. Đầu đo DGT gồm 3 phần: lớp màng cellulose acetate với kích thƣớc lỗ là 0,45 micromet, lớp khuếch tán và lớp nhựa để giữ chất cần phân tích. Sau 24 giờ đặt tại địa điểm lấy mẫu, đầu đo DGT đƣợc đƣa về phòng thí nghiệm, bề mặt đƣợc rửa sạch bằng nƣớc cất tinh khiết loại đeion, gỡ nhẹ nhàng khung cửa sổ, lớp màng lọc và lớp gel khuếch tán ra khỏi đầu đo trên một mặt phẳng. Lớp nhựa giữ chất đƣợc cắt thành miếng có bề rộng 0,5cm và cho vào ống nghiệm PE có chứa 2 ml HNO 3 1M để tán mẫu, thêm nƣớc de-ion vào cho đủ 10ml và phân tích bằng ICP-MS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ