Đặt vấn đề. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Tổng quan. Chương 4:Nội dung nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.Khái niệm tín dụng. Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể: Một bên là chuyển giao tién tệ hoặc tài sản hiện vật cho bên kia sử dụng. Bên kia sẽ hoàn trả lại tài sản hoặc tién bạc đó cho người cho vay vốn và lãi sau một thời gian nhất định. Trong quan hệ này thể hiện các nội dung sau: Người cho vay chuyển cho người đi vay một lượng giá trị nhất định, giá trị này có thể dưới hình thức tiền tệ hoặc hình thức hiện vật như: hàng hoá, máy móc, bất động sản.
Người đi vay chỉ sử dụng tạm thời trong một thời hạn nhất định, sau khi hết hạn theo thoả thuận người đi vay trả cho người cho vay một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu hay nói cách khác người đi vay trả thêm phần lời hay lãi suất. Trong hoạt động thực tiễn quan hệ tín dụng được hình thành hết sức đa dạng và có đủ các chủ thể tham gia. + Quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các doanh nghiệp và công chúng thể hiện dưới nhiều hình thức: Nhà nước phát hành công trái, trái phiếu, tín phiếu. + Quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp với công chúng thể hiện dưới nhiều hình thức: Mua bán chịu hàng hoá, doanh nghiệp phát hành trái phiếu công ty, bán hàng trả góp.
+ Quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tài chính, với các doanh nghiệp và công chúng thể hiện dưới nhiều hình thức: Nhận tiền gửi của khách hàng và cho khách hàng vay. + Quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các tổ chức tài chính quốc tế thể hiện dưới hình thức vay nợ.Sự ra đời của tín dụng Sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện của chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ sở ra đời của tín dụng. Xét về mặt xã hội: Sự xuất hiện của chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ sở hình thành phân hoá xã hội. Của cải, tién tệ có xu hướng tập trung vào một nhóm người trong khi đó một nhóm người khác lại có thu nhập thấp không đáp ứng nhu cầu tối thiểu của cuộc sống.
Đặc biệt là khi có những biến cố xảy ra, vì vậy đòi hỏi phai có sự ra đời của tín dụng để giải quyết những mâu thuẫn tổn tại của xã hội, đáp ứng tạm thời nhu cầu cho cuộc sống của người dân và cho toàn xã hội.Sự phát triển của tín dụng Tín dụng xuất hiện từ thời cổ đại dưới hình thức cho vay nặng lãi và phát triển lâu dài đa dạng cho đến ngày nay. Tín dụng nặng lãi là hình thức tín dụng ra đời sớm nhất, cụ thể người đi vay là nông dân, thợ thủ công. Người cho vay là những nhà kinh doanh, thương nghiệp, địa chủ và một số quan lại giàu có. Nguyên nhân xuất hiện quan hệ tín dụng nặng lãi là xuất phất từ rủi ro bất khả kháng trong cuộc sống, khiến người lao động đi vay để giải quyết những khó khăn tạm thời.
Đặc điểm của tín dụng cho vay nặng lãi là lãi suất cho vay cao và mục đích thường là tiêu dùng. Sự tổn tại và phát triển của tín dụng trong nên kinh tế hiện đại. Nền kinh tế hiện đại là nền kinh tế thị trường cần thiết phải có sự tôn tại và phát triển của tín dụng. Điều đó xuất phát từ sự tổn tại của nền san xuất hang hoá theo cơ chế thị trường, chính vì sự tổn tại này và nhu cầu cần thiết đó nên tín dụng càng phát triển và thể hiện ở chổ: Các tổ chức ngân hàng và tài chính tín dụng có mặt khắp nơi.
Nhà doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng ngày càng nhiều với quy mô lớn và phong phú. Người nông dân có thể đầu tư đa dạng hoá các hình thức sản xuất và đăm lại hiệu quả kinh tế cao nhờ vào vốn tín dụng.Bản chất của tín dụng Qua định nghĩa về tín dụng cho ta thấy trong quan hệ tín dụng người cho vay chỉ nhường lại quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên người đi vay không được quyền sở hữu số vốn ấy nên phải hoàn trả lại cho người cho vay khi đến hạn đã thoả thuận, sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tổn về mặt giá trị mà còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức. Chính vì những bản chất đặc biệt đó mà quan hệ tín dụng khác biệt rất rd so với các mối quan hệ khác.Chức năng của tín dụng * Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ Đây là hai quan hệ thống nhất trong sự vận hành của hệ thống tín dụng, sự có mặt của tín dụng được xem như là cầu nối giữa các nguồn cung cầu về vốn tién tệ trong nên kinh tế, thông qua chức năng này tin dung đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các cá nhân các đơn vị kinh tế đến bổ sung kịp thời cho các xí nghiệp, nhà máy, các cá nhân đang thiếu hụt về vốn.
s* Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội. Hoạt động tín dụng góp phan quan trọng trong việc tiết kiệm chi phí lưu thông được thể hiện qua ba con đường: Tín dụng tạo điều kiện thay thế tiền mặt bằng các phương tiện chi trả khác như: kỳ phiếu, giấy bạc ngân hàng, séc. Từ đó giảm bớt chi phí in ấn phát hành va bảo quản tiền mặt. Tín dụng tạo diéu kiện ra đời các loại tiền ghi sổ thông qua việc tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ lẫn nhau trong hầu hết các giao dịch giữa các doanh nghiệp và các cá nhân thông qua hệ thống ngân hàng.
Tin dụng tạo điều kiện tăng nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ. s* Phan ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Thông qua kế hoạch huy động vốn và cho vay của ngân hàng sẽ phan ánh mức độ tăng của nên kinh tế về các mặt, khối lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội. Nhu cau vốn của nền kinh tế thông qua nghiệp vụ trung gian thanh toán, ngân hàng có điều kiện tăng cường vai trò kiểm soát bằng đồng tiền các đơn vị kinh tế.
Vì mọi quá trình hình thành và sử dụng vốn của doanh nghiệp đều phản ánh qua số liệu trên tài khoản của ngân hàng.Vai trò của tín dụng + Tin dụng ngân hàng là công cụ thúc đẩy kinh tế phát triển với tốc độ nhanh Trong hoạt động sản xuất kinh doanh để duy trì liên tục đòi hỏi vốn của các xí nghiệp phải đồng thời tổn tại cả ba giai đoạn: Dự trữ, sản xuất, lưu thông. Nên hiện tượng thừa, thiếu vốn xảy ra liên tục tại các xí nghiệp, từ đó tín dụng góp phần điều tiết các ngồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Trong điều kiện đất nước ta hiện nay cơ cấu kinh tế còn nhiều mặt mất cân đối, vì vậy thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng mà sử dụng nguồn tài nguyên như: lao động, nghiên liệu. Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời giải quyết các vấn để xã hội.
“> Tin dụng góp phần ổn định tiền tệ và giá cả Trong diéu kiện nền kinh tế thị trường tín dụng còn được xem là một trong những biện pháp hữu hiệu làm giảm lạm phát, với chức năng tập trung và phân phối lai vốn tiền tệ tin dụng đã trực tiếp làm giảm khối lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế. Đặc biệt là những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần ổn định tiền tệ. Mặc khác tín dụng còn tạo điều kiện mở rộng công tác thanh toán không dùng tiền mặt đây cũng là một trong những nhân tố tích cực nhằm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, giúp nhà nước dể dàng hơn trong quản lý và lưu thông tién tệ và thực thi được các chính sách tién tệ linh hoạt trong từng thời kỳ khác nhau để góp phần ổn định tién tệ và giá cả trong nước. s* Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định đời sống tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xã hội Nền kinh tế phát triển trong một môi trường ổn định về tiền tệ là điều kiện nâng cao dan đời sống của các thành viên trong xã hội.
Từ đó rút ngắn chênh lệch giữa các giai cấp, góp phần thay đổi cấu trúc xã hội, mặc khác tín dụng không chỉ đáp ứng nhu cau cho các doanh nghiệp mà còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư trong xã hội, tín dụng sẵn sàng cung cấp những nhu cầu vay vốn hợp lý của các cá nhân như :Phát triển kinh tế gia đình, mua sắm, kinh doanh.Tất cả những việc làm này không nằm ngoài mục dich từng bước cải thiện đời sống của nông dân, tạo công ăn việc làm qua đó góp phần ổn định xã hội. Tín dụng là công cu để nhà nước diéu tiết thông qua chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Một trong những kênh chủ lực cung ứng tiền tệ cho nên kinh tế được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng. Chính sách tín dụng của nhà nước cho phép hệ thống ngân hàng mở rộng hay thắt chặc tín dụng để đạt một tốc độ phát triển kinh tế như ý muốn. Các hình thức tín dụng “> Căn cứ vào chủ thể tín dụng + Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá lẫn nhau.
+ Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng thông qua quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi theo nguyên tắc hoàn trả. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức trung gian, vì vậy trong mối quan hệ này ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay. + Tín dụng nhà nước: Là quan hệ tín dụng phát sinh giữa nhà nước và các thành phân dân cư được biểu hiện dưới hình thức công trái nhà nước do cơ quan tài chính thực hiện. Trong mối quan hệ này nhà nước đóng vai trò là người đi vay còn dân cư là người cho vay.