CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẺ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm và đặc điểm cấu tạo của thẻ tín dụng 1.1 Khái niệm về Thẻ tín dụng Thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán với một hạn mức chi tiêu mà Ngân hàng phát hành cấp dựa trên năng lực tài chính và không phải trả lãi nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn. Vì vậy, khách hàng có thể sử dụng để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn… tại nơi chấp nhận loại thẻ này hay có thẻ rút tiền mặt tại các Ngân hàng, máy rút tiền tự động ATM trong phạm vi hạn mức cho phép.2 Đặc điểm cấu tạo của thẻ tín dụng Thẻ tín dụng được làm bằng chất nhựa trắng có 3 lớp, lõi thẻ là lớp nhựa trắng cứng nằm giữa 2 lớp tráng mỏng, kích thước tiêu chuẩn quốc tế là 8,5cm x 5,5cm x 0,07cm. Mặt trước thẻ • Đầu tiên là biểu tượng của tổ chức quốc tế phát hành thẻ. Mỗi chiếc thẻ sẽ có biểu tượng riêng.
• Tiếp đến là tên và logo: tên và logo thuộc về Ngân hàng phát hành thẻ. • Số thẻ, tên của chủ thẻ: Phần này được in nổi lên bề mặt thẻ bằng chữ in hoa. • Thời gian bắt đầu có hiệu lực và ngày kết thúc hiệu lực của thẻ: chính là phần thời gian được phép lưu hành và thời gian hết hạn sử dụng thẻ • Ký tự an ninh: đây chính là phần mật mã của đợt phát hành thẻ. Và mỗi loại thẻ sẽ có những ký tự an ninh riêng để phòng giả mạo thẻ 4 Mặt sau thẻ • Dải băng từ: Đây là phần chứa những thông tin mã hóa các thông tin như số thể, ngày bắt đầu và kết thúc hiệu lực, tên chủ thẻ, mã PIN,.
• Ô chữ ký mẫu của chủ thẻ • Mã bảo mật CVV: là dãy số Ngân hàng cung cấp thẻ cho khách hàng 1.3 Phân biệt thẻ tín dụng và các loại thẻ khác Sự khác nhau giữa thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng Theo định nghĩa thì thẻ ghi nợ là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ chức tín dụng Thẻ ghi nợ thực chất cũng là thẻ ATM, dùng để rút tiền mặt, được sử dụng để rút tiền từ tài khoản cá nhân thông qua các máy ATM. Thẻ ATM giúp giải quyết vấn đề là không phải mang theo quá nhiều tiền mặt bên mình vì khi cần tiền mặt có thể giao dịch bằng thẻ ATM qua app hoặc ATM gần nhất để rút tiền mặt bất kỳ lúc nào mà không lo rủi ro khi mang theo tiền mặt. Thẻ ATM ngoài chức năng rút tiền còn có các chức năng khác như chuyển khoản, kiểm tra số dư, in sao kê… Thẻ ATM hoạt động dựa trên số dư trên tài khoản của Sự khác nhau giữa thẻ thanh toán và thẻ tín dụng Để giải quyết nhu cầu chi tiêu thông qua tài khoản cá nhân, ngân hàng đã phát triển thẻ ATM lên một mức độ cao hơn đó là thẻ thanh toán. Thẻ thanh toán là thẻ vừa có khả năng rút tiền mặt, vừa có thể tích hợp tiện ích thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ như: mua hàng tại siêu thị, nhà hàng….
Dựa trên cơ chế hoạt động số dư tài khoản, mỗi lần thực hiện giao dịch rút tiền hoặc thanh toán bằng thẻ, tài khoản ngân hàng sẽ trừ ngay lập tức và có thể kiểm tra sao kê giao dịch trong bảng sao kê hàng tháng.2 Phân loại thẻ tín dụng 1.1 Theo hạng thẻ • Thẻ hạng chuẩn: Dành cho người có thu nhập trung bình từ 5 triệu đồng/tháng trở lên. Hạn mức tín dụng của hạng thẻ này dao động từ 10 – 50 triệu đồng. Đối với hạng thẻ này phí thường niên sẽ rơi vào từ 150 đến 250 nghìn đồng tùy theo ngân hàng. • Theo hạng vàng: Dành cho người có thu nhập từ 8 -10 triệu đồng/tháng trở lên với hạn mức từ 50-200 triệu đồng.
Phí thường niên thường dao động từ 200-500 nghìn đồng. • Theo hạng bạch kim: Đây là dòng thẻ cao cấp nhất dành cho những người có thu nhập cao từ 20 triệu đồng/ tháng trở lên. Hạn mức tín dụng của 1. Căn cứ vào chủ thể sử dụng • Thẻ tín dụng cá nhân: NHPH cho các cá nhân có nhu cầu sử dụng thẻ và chịu trách nhiệm thanh toán bằng nguồn tiền của mình.
Thẻ dành cho cá nhân bao gồm thẻ chính và thẻ phụ, chủ thẻ chính dành cho người đứng tên mở thẻ, còn thẻ phụ là thẻ mở thêm do người đứng tên chịu trách nhiệm với các khoản chi tiêu của thẻ phụ. Hạn mức thẻ phụ không được phép cao hơn hạn mức của thẻ chính. • Thẻ tín dụng doanh nghiệp: loại thẻ này được phát hành cho các tổ chức, công ty, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng và chịu trách nghiệm thanh toán bằng nguồn tiền của tổ chức đó. Theo đó, khi các tổ chức này xin phát hành thẻ sẽ ủy quyền cho một cá nhân trong doanh nghiệp dùng thẻ.
Và việc ủy quyền cũng bao gồm giấy ủy quyền hợp pháp theo chỉ định của ngân hàng và tổ chức đó. Căn cứ vào phạm vi sử dụng thẻ • Thẻ tín dụng nội địa: Thẻ tín dụng nội địa là thẻ tín dụng chỉ có thể sử dụng tại các điểm chấp nhận thẻ trong nước. Đây là loại thẻ phổ biến nhất và thường được ngân hàng phát hành cho khách hàng sử dụng trong nước. • Thẻ tín dụng quốc tế: Thẻ tín dụng quốc tế là thẻ tín dụng được chấp nhận sử dụng tại các điểm chấp nhận thẻ trên toàn thế giới.
Thẻ tín dụng quốc tế cung cấp sự thuận tiện cho khách hàng khi đi du lịch hoặc làm việc ở nước ngoài. Bên cạnh đó, việc sử dụng thẻ tín dụng cá nhân giúp cho việc quản lý tài chính của cá nhân trở nên tiên lợi hơn, giúp khách hàng dễ dàng theo dõi các khoản chi tiêu của họ một cách thuận tiện và tiết kiệm thời gian hơn 1. Căn cứ vào thương hiệu • Thẻ tín dụng Classic: Thẻ Classic là một trong những thương hiệu thẻ tín dụng lớn nhất thế giới. Classic được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ chấp nhận thẻ.
Classic cũng cung cấp nhiều chương trình ưu đãi, khuyến mãi và phần thưởng cho khách hàng sử dụng thẻ của họ • Thẻ tín dụng Gold: Goldcard cũng là một trong những thương hiệu thẻ tín dụng lớn nhất thế giới. Goldcard cũng được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, với hơn 210 quốc gia và vùng lãnh thổ chấp nhận thẻ. Goldcard cũng cung cấp nhiều chương trình ưu đãi, khuyến mãi và phần thưởng cho khách hàng sử dụng thẻ của họ. • Thẻ tín dụng Platium: Platium (Japan Credit Bureau) là một thương hiệu thẻ tín dụng lớn tại Châu Á.
Platium được chấp nhận rộng rãi tại các quốc gia châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc,…và cũng có thể được chấp nhận tại một số quốc gia khác. Các chủ thể tham gia vào thị trường thẻ tín dụng 1. Tổ chức thẻ quốc tế “Tổ chức thẻ quốc tế là đơn vị đầu não, quản lý mọi hoạt động phát hành và thanh toán thẻ. Đây là Hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn, có mạng lưới hoạt động rộng khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và các loại sản phẩm đa dạng.
Ví dụ tổ chức thẻ”Classic, tổ chức thẻ GoldCard,”công ty thẻ American Epress, công ty thẻ”Platium”công ty Diners Club, công ty Mondex… Tổ chức thẻ quốc tế đưa ra nhưng quy định cơ bản về việc phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa tổ chức và các công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thanh toán giữa các công ty thành viên. Ngân hàng phát hành thẻ Thẻ“Ngân hàng ra đời trực tiếp từ mối quan hệ gắn bó giữa người mua hàng, các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ và các tổ chức tài chính - tín dụng. Khi Ngân hàng và các tổ chức tài chính- tín dụng trở thành thành viên chính thức hoặc đại lý cho các tổ chức và công ty thẻ thì toàn bộ hệ thống phát hành và thanh toán thẻ trở nên đồng bộ. Ngân hàng phát hành là Ngân hàng được sự cho phép của tổ chức thẻ hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của những tổ chức và công ty này.
Ngân hàng phát hành là Ngân hàng có tên in trên thẻ do Ngân hàng đó phát hành thể hiện thẻ đó là sản phẩm của mình. Ví dụ Ngân hàng”TMCP Quân đội được phép phát hành thẻ Classic, GoldCard, American Expess, phát hành thẻ tín dụng quốc tế có tên MBbankClassic, MBbank GoldCard và MBbank American Expess. “Ngân hàng phát hành quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho chủ thẻ tuân thủ. Ngân hàng phát hành có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba, là một Ngân hàng hay tổ chức tài chính - tín dụng nào khác trong việc thanh toán hoặc phát hành thẻ tín dụng.
Trong trường hợp này, Ngân hàng tận dụng ưu thế bên thứ ba về kinh nghiệm, khả năng thâm nhập thị trường và ưu việt về vị trí địa lý; tuy nhiên, cũng phải chịu rủi ro về tài chính bởi bên thứ ba lúc này hoạt động với danh nghĩa là Ngân hàng đại lý. Bên thứ ba khi ký kết hợp đồng đại lý với Ngân hàng phát hành 8 được gọi là Ngân hàng đại lý phát hành. Nếu tên của Ngân hàng đại lý xuất hiện trên tấm thẻ của khách hàng thì nhất thiết Ngân hàng đại lý phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ hoặc các công ty thẻ.”Chủ thẻ” “Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được ủy quyền (nếu là thẻ do công ty ủy quyền sử dụng) được Ngân hàng phát hành thẻ, có tên in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo những điều khoản, điều kiện do Ngân hàng phát hành quy định.” “Theo thông lệ, mỗi chủ thẻ chính có thể phát hành thêm một thẻ phụ. Như vậy phát sinh hai khái niệm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ.
Tuy nhiên, chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ cùng chi tiêu trên một tài khoản. Chủ thẻ phụ cũng có trách nhiệm thanh toán các khoản phát sinh trong kỳ, nhưng chủ thẻ chính là người có trách nhiệm thanh toán cuối cùng cho Ngân hàng.