Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về: Bảo hiểm Nhân thọ, thị trường, doanh thu, lợi nhuận và thị phần Bảo hiểm Nhân thọ. Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ giai đoạn 2008-2015. Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của Bảo Việt Nhân Thọ đến năm 2020 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ: BẢO HIỂM NHÂN THỌ, THỊ TRƢỜNG, DOANH THU, LỢI NHUẬN VÀ THỊ PHẦN CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Khái quát chung về Bảo hiểm Nhân thọ 1.
Khái niệm và đặc điểm của Bảo hiểm Nhân thọ 1. Khái niệm Bảo hiểm Nhân thọ (BHNT) là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Bảo hiểm Nhân thọ giải quyết những nỗi lo âu về mặt an toàn trong đời sống nhưng nó chỉ gắn liền với các biến cố liên quan đến bản thân con người như: sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ (Nguyễn Văn Định, 2005, tr. Tuy nhiên, đứng trên góc độ pháp lý, kỹ thuật tồn tại những khái niệm khác về BHNT đó là: Về mặt pháp lý: BHNT là bản hợp đồng trong đó để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm (người ký kết hợp đồng) thì người bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một người hay nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền nhất định (đó là số tiền bảo hiểm hay một khoản trợ cấp) trong trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay người được bảo hiểm sống đến một thời điểm được xác định trong hợp đồng (Thư viện Học liệu mở Việt Nam).
Về mặt kỹ thuật: BHNT là nghiệp vụ bao hàm những cam kết mà sự thi hành những cam kết này phụ thuộc chủ yếu vào tuổi thọ của con người (Thư viện Học liệu mở Việt Nam). Theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam (Khoản 12 – Điều 3 năm 2000) quy định: “Bảo hiểm Nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”. Người được bảo hiểm và người tham gia BHNT có thể là các tổ chức, cá nhân ở các lứa tuổi khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Những đặc điểm cơ bản của Bảo hiểm Nhân thọ a) Bảo hiểm Nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính bảo vệ tài chính Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với bảo hiểm Phi nhân thọ. Thật vậy, mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho Công ty Bảo hiểm, ngược lại Công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Số tiền bảo hiểm (STBH) được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp đồng. Hoặc số tiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người được bảo hiểm không may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm.
Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản chi phí cần thiết như: Thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục cho con cái… Chính vì vậy, BHNT vừa mang tính chất tiết kiệm, vừa mang tính bảo vệ người được bảo hiểm khỏi những rủi ro tài chính. Tính chất tiết kiệm thể hiện ngay ở từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật. Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ: người bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là, khi người được bảo hiểm không may gặp rủi ro trong thời hạn bảo hiểm đã được ấn định, những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay STBH từ Công ty Bảo hiểm.
Điều đó thể hiện rõ tính chất bảo vệ tài chính cho người được bảo hiểm trước những rủi ro không lường trước được trong BHNT. b) Bảo hiểm Nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau cho người tham gia bảo hiểm Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm Phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả rủi ro, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT ngoài mục đích đó còn đáp ứng nhiều mục đích khác. Mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng. Chẳng hạn, hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) hưu trí sẽ đáp ứng nhu cầu của người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống của họ khi già yếu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 HĐBH tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một STBT khi họ bị tử vong. Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố như: trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dưỡng bố mẹ già… Ngoài ra, HĐBH đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thường được bán cho các đối tượng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác… Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm. c) Thời hạn Bảo hiểm Nhân thọ thường rất dài, quan hệ giữa các bên trong mỗi hợp đồng Bảo hiểm Nhân thọ lại rất đa dạng và phức tạp Thời hạn trong BHNT thường kéo dài từ 5 năm trở lên. Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có các hợp đồng 5 năm, 10 năm.
Mỗi loại hợp đồng lại có sự khác nhau về STBH, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia… Mối quan hệ giữa các bên trong hợp đồng bảo hiểm cũng rất phức tạp. Khác với các bản HĐBH Phi nhân thọ, trong mỗi HĐBH nhân thọ có thể có 4 người có liên quan: Người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm. Người bảo hiểm (bên nhận bảo hiểm) là các doanh nghiệp BHNT có trách nhiệm và nghĩa vụ phải chi trả STBH theo đúng quy định trong HĐBH. Người được bảo hiểm là người mà tính mạng, tình trạng sức khỏe và những sự kiện có liên quan đến tuổi thọ của họ được bảo hiểm hoặc là người giao tên tuổi của mình cho người khác đi ký HĐBH.
Còn người tham gia BHNT thực chất là người trực tiếp đứng ra yêu cầu bảo hiểm, thỏa thuận và kí kết hợp đồng đồng thời thực hiện nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm. Tuy nhiên, người tham gia bảo hiểm phải có đầy đủ năng lực hành vi pháp lí mà nhà nước quy định. Trong hợp đồng bảo hiểm còn có người thụ hưởng quyển lợi bảo hiểm. Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là người được hưởng STBH hoặc các khoản trợ cấp do công ty BHNT thanh toán như đã nêu trong hợp đồng.
Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm do người tham gia bảo hiểm chỉ định. d) Phí Bảo hiểm Nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo tác giả Jean – Claude Harrari: “Sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ không gì hơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến công chúng”. Trong tiến trình này, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm như: Chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng… Nhưng những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên giá cả sản phầm BHNT, một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào: Độ tuổi của người được bảo hiểm Tuổi thọ bình quân của con người Số tiền bảo hiểm Thời hạn tham gia Phương thức thanh toán Lãi suất đầu tư Tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền… Khi định giá phí BHNT, một số yếu tố phải giả định như: Tỷ lệ chết, tỷ lệ hủy bỏ hợp đồng, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát… Vì thế, quá trình định phí ở đây khá phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích được chiều hướng phát triển của mỗi sản phẩm trên thị trường nói chung. e) Bảo hiểm Nhân thọ ra đời sớm và phát triển trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Ở các nước có nền kinh tế phát triển, BHNT đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay.
Ngược lại có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được BHNT, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó. Để lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đề cho rằng, cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế - xã hội phải phát triển. Những điều kiện kinh tế như: Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân trên đầu người, mức thu nhập của dân cư, tỷ lệ lạm phát của đồng tiền, tỷ giá hối đoái. Những điều kiện xã hội bao gồm: Điều kiện về dân số, tuổi thọ bình quân của người dân, trình độ học vấn, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ngoài điều kiện kinh tế - xã hội, thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT.
Thông thường ở các nước, luật kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời trước khi ngành bảo hiểm phát triển. Luật bảo hiểm và các văn bản có liên quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề như: Tài chính, đầu tư, hợp đồng, thuế… Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh BHNT.