Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại gân hàng TMCP Đại Chúng Việt am - Phòng giao dịch Tây Lộc Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Phòng giao dịch Tây Lộc SVTH: gô Thị Kim Oanh 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Tống Viết Bảo Hoàng PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤ ĐỀ GHIÊ CỨU 1. Khái niệm về gân hàng thương mại: N gân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế chuyên thực hiện các hoạt động trong N gân hàng về các lĩnh vực cung cấp tiền tệ, dịch vụ tài chính giữa khách hàng và N gân hàng hoặc ngược lại. Các hoạt động trong N gân hàng như: huy động nguồn vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. Theo luật các tổ chức tín dụng: N gân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động N gân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.
(N ghị định số 59/2009/N Đ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của các N gân hàng thương mại được N gân hàng N hà nước Việt N am (sau đây gọi tắt là N gân hàng N hà nước) cấp Giấy phép thành lập và hoạt động. Các hoạt động chủ yếu của HTM: N gân hàng thương mại chủ yếu là nhận tiền gửi và cho vay vốn đầu tư. Tuy nhiên cũng có những thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của khách hàng, khoa học kỹ thuật kinh tế và xã hội. N hờ có các N gân hàng thương mại mà các chính sách tài chính tiền tệ của N hà nước được thực hiện một cách nhanh chóng và kịp thời hơn, từ đó việc kiểm soát các hoạt động của các doanh nghiệp được dễ dàng, theo đúng luật pháp hơn.
Hoạt động cho vay của HTM. Khái niệm: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó N H giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất sông rủi ro cao nhất của N gân hàng thương mại. Để N H tồn tại và phát triển vững chắc, hoạt động cho vay phải an toàn và hiệu quả.
SVTH: gô Thị Kim Oanh 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Tống Viết Bảo Hoàng Muốn vậy, nó phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định. Thứ nhất, KH vay vốn phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận. Điều này giúp hạn chế rủi ro tín dụng cho N H. Thứ hai, KH phải đảm bảo hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Thứ ba, N H cho vay đối với những dự án khả thi, có hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ. N hờ đó, N H mới có được lợi nhuận từ việc cho vay. Với xu hướng phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ cho vay ngày càng đa dạng, phong phú, hoàn thiện, đầu tư vào tất cả các lĩnh vực ngành nghề. Để đáp ứng nhu cầu vay vốn của N gân hàng ngày càng gia tăng, hoạt động cho vay của N gân hàng ngày càng mở rộng, đòi hỏi N gân hàng phải có quy trình quản lý chặt chẽ.
Mục tiêu quản lý khoản mục cho vay thống nhất với mục tiêu chung của N gân hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn. Có thể hiểu ngắn gọn: “Hoạt động cho vay là việc N gân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định”. N gân hàng trao quyền sử dụng vốn cho khách hàng, khách hàng dùng số vốn này đầu tư vào sản xuất kinh doanh kiếm lời, đảm bảo trả nợ gốc và lãi cho N gân hàng. Các hình thức cho vay tại HTM.
Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay: a) Cho vay tiêu dùng. Cho vay tiêu dùng là khoản cho vay để tài trợ cho việc tiêu dùng nhằm giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho người vay được hưởng mức sống cao hơn. Thông thường quy mô của những khoản vay này nhỏ rủi ro cao vì phụ thuộc phần lớn vào thu nhập và ý thức trả nợ của khách hàng. Mà hiện nay, ở Việt N am tỷ lệ thu nhập ngầm là rất cao (là những khoản thu nhập không kiểm soát được) nên lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao.
Đối tượng được vay là các cá nhân và hộ gia đình vay để phục vụ cho mục đích mua nhà, mua ôtô, du học, du lịch… b) Cho vay kinh doanh. Là loại hình cho vay của tổ chức tín dụng đối với các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức như: cho vay công nghiệp, cho vay thương mại, cho vay nông nghiệp… SVTH: gô Thị Kim Oanh 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Tống Viết Bảo Hoàng 1. Dựa theo thời hạn cho vay: a) Cho vay ngắn hạn. Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động cho các DN và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
b) Cho vay trung hạn. Là các món vay có khoảng thời gian trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay trung hạn chủ yếu được mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh, hình thành vốn lưu động thường xuyên của các DN , đặc biệt là những DN mới thành lập… c) Cho vay dài hạn. Là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm.
Cho vay dài hạn nhằm mục đích tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản như xây dựng nhà ở, sân bay, cầu đường, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới… 1. Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay: a) Cho vay có tài sản đảm bảo. Là loại cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm như cầm cố, thế chấp, hoặc phải có bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba. Trong nhiều trường hợp, N H yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng.
Lý do là khách hàng phải đối đầu với rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho N H. N hững biến cố không mong đợi có thể gây ra cho N H những tổn thất lớn. Chính vì vậy, trừ những khách hàng có uy tín cao, nhiều khách hàng phải có tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng của N H yêu cầu phải có tài sản đảm bảo, N H muốn có một nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ một là nguồn thu nhập từ hoạt động kinh doanh không đảm bảo trả nợ. Hiện nay, hầu hết các khoản cho vay đều phải có tài sản đảm bảo.
SVTH: gô Thị Kim Oanh 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Tống Viết Bảo Hoàng b) Cho vay không có tài sản đảm bảo. Cho vay không có tài sản đảm bảo là việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đi vay mà không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ 3. Cho vay không có tài sản đảm bảo thông thường dành cho khách hàng có uy tín cao, khách hàng truyền thống, có tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh thường xuyên có lãi… Tuy nhiên, đây là hình thức cho vay mang nhiều rủi ro đối với các N H, N H cần thNm định kỹ khách hàng trước khi quyết định cho vay. Dựa theo hình thức hình thành khoản vay: a) Cho vay trực tiếp từng lần.
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của N gân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, N gân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, N gân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả. N ếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, N gân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn.
Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi. N ghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản N gân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt. b) Cho vay theo hạn mức tín dụng. Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó N gân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng, hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ.
Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. + Cho vay trong hạn mức: Số dư nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức. Khách hàng có thể vay trả nhiều lần trong kỳ nhưng dư nợ không vượt quá hạn mức.
+ Cho vay ngoài hạn mức: Số dư lớn hơn hạn mức. N gân hàng quy định hạn mức tín dụng cuối kỳ. Dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức nhưng đến cuối kỳ khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không vượt quá hạn mức. SVTH: gô Thị Kim Oanh 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Tống Viết Bảo Hoàng Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã thu mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay.
Sau khi kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ N gân hàng sẽ phát tiền cho vay. Đây là hình thức cho vay thuận tiện với những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp vụ này N gân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và thời hạn tín dụng. Khi khách hàng có thu nhập, N gân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng.
Tuy nhiên các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên N gân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay.