Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về phân tích và hoạch định tài chính công ty Chương 3: Tổng quát về Công ty cổ phần Nam Việt (NAVIFICO) Chương 4: Tình hình tài chính Công ty cổ phần Nam Việt (NAVIFICO) Chương 5: Hoạch định tài chính Công ty cổ phần Nam Việt Chương 6: Nhận xét – Đánh giá & Kiến nghị 2 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH VÀ HOẠCH ĐỊNH TÀI CHÍNH CÔNG TY 2. Tổng quan về phân tích tài chính công ty: 2. Khái niệm về phân tích tài chính: Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình kiềm tra đối chiếu và so sánh số liệu về tình hình tài chính hiện hành trong quá khứ, tình hình tài chính của đơn vị với những chỉ tiêu bình quân ngành. Qua đó, nhà phân tích có thể thấy được thực trạng tình hình tài chính hiện tại và dự đoán trong tương lai, đề xuất những biện pháp quản trị tài chính đúng đắn và kịp thời để phát huy ở mức cao nhất hiệu quả sử dụng vốn.
Ý nghĩa và mục đích của phân tích tài chính: Phân tích các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính nhằm đánh giá thực trạng, khả năng, tiềm lực của doanh nghiệp; thấy được điểm mạnh, điềm yếu và nguyên nhân của nó. Từ đó giúp những người quan tâm có quyết định tài chính đúng đắn đối với doanh nghiệp. Phân tích báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả những người có liên quan hoặc quan tâm tới Công ty. Tuy nhiên, mục đích và ý nghĩa cụ thể khác nhau tùy thuộc vào vị trí của mỗi người với Công ty: - Đối với nhà quản trị và các chủ doanh nghiệp: mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận cũng như giá trị của doanh nghiệp.
Ngoài ra còn có các mục tiêu khác như tạo uy tín trên thị trường, phúc lợi xã hội,… Do đó mục tiêu của họ là cần quyết định đầu tư, tài trợ như thế nào. Vì vậy việc phân tích báo cáo tình chính giúp họ đánh giá, kiểm soát được tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đó có quyết định đầu tư kinh doanh, lựa chọn tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần đúng đắn và lập kế hoạch dự báo tài chính. - Đối với các nhà đầu tư: Mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp.
- Đối với ngân hàng và những người cho vay tín dụng: Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thực hiện nhằm đánh giá khả năng sinh lời và tăng trưởng của doanh nghiệp thì các ngân hàng và nhà cung cấp tín dụng 3 thương mại cho doanh nghiệp sử dụng là nhằm xem xét khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời. Bên cạnh đó, bên ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro. - Đối với các nhà cung cấp: nhờ phân tích báo cáo tài chính, họ sẽ đánh giá được khả năng thanh toán của doanh nghiệp để đề ra hoặc điều chỉnh chính sách bán chịu, cho trả chậm phù hợp.
- Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: dựa và các báo cáo tài chính doanh nghiệp để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng… 2. Đối tƣợng phân tích tài chính: Để tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần có các hoạt động trao đổi điều kiện và kết quả sản xuất thông qua những công cụ tài chính và vật chất. Chính vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào các mối quan hệ tài chính đa dạng và phức tạp. Các quan hệ tài chính có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau: - Thứ nhất: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước.
Quan hệ này biểu hiện trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp thông qua các hình thức: o Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào ngân sách theo luật định. o Nhà nước cấp vốn kinh doanh cho các Doanh nghiệp (DNNN) hoặc tham gia với tư cách người góp vốn (trong các doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp). - Thứ hai: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính và các tổ chức tài chính. Thể hiện cụ thể trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn và ngắn hạn cho nhu cầu kinh doanh: o Trên thị trường tiền tệ: việc doanh nghiệp quan hệ với các ngân hàng, vay các khoản ngắn hạn, trả lãi và gốc khi đến hạn.
o Trên thị trường tài chính: doanh nghiệp huy động các nguồn vốn dài hạn bằng cách phát hành các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) cũng như phải trả các khoản lãi hoặc doanh nghiệp gửi các khoản vốn nhàn rỗi vào ngân hàng hay mua chứng khoán của các doanh nghiệp khác. - Thứ ba: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác để huy động các yếu tố đầu vào (thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động….) và các quan hệ để 4 thực hiện tiêu thụ sản phẩm ở thị trường đầu ra (với các đại lý, các cơ quan xuất nhập khẩu thương mại…) - Thứ tư: Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp. Đó là các khía cạnh tài chính có liên quan đến vấn đề phân phối thu nhập và chính sách tài chính của doanh nghiệp như: vấn đề cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chính sách lợi tức cổ phần, sử dụng ngân quỹ nội bộ doanh nghiệp. Trong mối quan hệ quản lý hiện nay, hoạt động tài chính của các DNNN có quan hệ chặt chẽ với hoạt động tài chính của cơ quan chủ quản là Tổng Công Ty.
Mối quan hệ đó được thể hiện trong các quy định tài chính như: o Doanh nghiệp nhận và có trách nhiệm bảo quản vốn Nhà nước do Tổng công ty giao. o Doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng góp mội phần quỹ khấu hao cơ bản và trích một phần lợi nhuận vào quỹ tập trung của Tổng công ty theo quy chế tài chính của Tổng công ty và với những điều kiện nhất định. o Doanh nghiệp cho Tổng công ty vay quỹ khấu hao cơ bản và chịu sự điều hòa vốn trong Tổng công ty theo những điều kiện ghi trong điều lệ của Tổng công ty. Như vậy, đối tượng của phân tích tài chính, về thực chất là các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành, phát triển và biến đổi vốn dưới các hình thức có liên quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài liệu phân tích tài chính: Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ mục tiêu của dự đoán tài chính. Từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, thông tin số lượng đến thông tin giá trị đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra nhận xét, kết luận sát thực. Tuy nhiên, thông tin kế toán là nguồn thông tin đặc biệt cần thiết. Nó được phản ánh đầy đủ trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Các báo cáo tài chính gồm có: - Bảng cân đối kế toán: là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Nó phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản. Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả (nguồn vốn). Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là bảng cân đối kế toán.
Thông qua nó có thể nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát tình hình tài chính 5 và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. - Báo cáo kết quả kinh doanh: Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh. Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hóa, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh là lãi hay lỗ trong năm. Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh không chỉ phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp.
Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải (tài sản) và nguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính được lãi/lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiển vào ra trong doanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp.