Tổng quan nghiên cứu

Hóa chất bảo vệ thực vật nhóm Neonicotinoids bắt đầu được đưa vào sử dụng thương mại từ những năm 1990 và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường nông dược toàn cầu. Đến năm 2019, nhóm hoạt chất này đã chiếm tới 25% tổng sản lượng hóa chất bảo vệ thực vật trên toàn thế giới và được cấp phép lưu hành tại hơn 120 quốc gia. Tại Việt Nam, một quốc gia có nền nông nghiệp nhiệt đới gió mùa phát triển mạnh, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để kiểm soát sâu bệnh là rất lớn. Thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ghi nhận năm 2017 cả nước sử dụng khoảng 120.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật, trong đó thuốc trừ sâu chiếm 83,2%. Riêng khu vực Hà Nội tiêu thụ gần 0,3% tổng lượng này phục vụ cho hơn 188.000 hecta đất canh tác nông nghiệp, trồng trọt hoa màu và cây cảnh đô thị.

Trong điều kiện đô thị hóa nhanh chóng, con người dành hơn 80% quỹ thời gian sinh hoạt và làm việc trong môi trường trong nhà. Bụi lắng trong nhà trở thành bể chứa tích tụ các hợp chất hữu cơ khó phân hủy và các hoạt chất thuốc trừ sâu có độ bay hơi thấp. Đặc biệt, trẻ em là đối tượng chịu rủi ro phơi nhiễm qua đường bụi nhà cao gấp 12 lần so với người lớn do thói quen bò trườn và tỷ lệ hít thở tính theo khối lượng cơ thể lớn hơn.

Trước thực trạng Việt Nam vẫn chưa ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cụ thể để kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong không khí nội thất, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Hóa phân tích thực hiện đề tài nghiên cứu quy trình phân tích hai hoạt chất phổ biến của nhóm Neonicotinoids là Imidacloprid và Thiamethoxam trong bụi không khí trong nhà tại 6 quận nội thành Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật sắc ký lỏng khối phổ độ phân giải cao thời gian bay kết hợp thu nhận dữ liệu tuần tự, tiến hành lấy mẫu thực tế vào tháng 6/2018. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu quan trắc độc chất học môi trường quan trọng, phục vụ công tác đánh giá rủi ro sức khỏe cộng đồng và đề xuất giải pháp quản lý chất lượng không khí trong nhà.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng lý thuyết cấu trúc và cơ chế tác động độc chất học thần kinh của nhóm Neonicotinoids lên hệ thần kinh trung ương côn trùng. Imidacloprid (công thức phân tử C9H10ClN5O2, ion mẹ m/z 256) và Thiamethoxam (công thức phân tử C8H10ClN5O3S, ion mẹ m/z 291,8) tác động trực tiếp lên thụ thể nicotinic acetylcholine (nAChR), gây kích thích kéo dài và dẫn đến tê liệt thần kinh. Khác với nicotine thông thường, các Neonicotinoid mang đầu âm điện phân cực mạnh, giúp chọn lọc cao trên côn trùng nhưng vẫn tiềm ẩn độc tính mãn tính đối với động vật có vú và con người với liều tham chiếu qua đường ăn uống RfD của Imidacloprid được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ xác định ở mức 0,057 mg/kg/ngày.

Nghiên cứu áp dụng lý thuyết phân bố chiết tách rắn - lỏng hỗ trợ vi sóng và sóng siêu âm nhằm giải phóng tối đa hoạt chất hữu cơ bám dính trên các hạt bụi mịn có diện tích bề mặt lớn. Mô hình đánh giá rủi ro sức khỏe con người qua đường hô hấp của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (USEPA) được tích hợp để tính toán liều phơi nhiễm hàng ngày (ID) và chỉ số nguy hại (Hazard Quotient - HQ), làm thước đo định lượng mức độ ảnh hưởng của hóa chất đến người trưởng thành và trẻ nhỏ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thực địa có chủ đích tại 6 quận nội thành Hà Nội gồm Long Biên (3 mẫu), Hoàn Kiếm (3 mẫu), Cầu Giấy (1 mẫu), Ba Đình (1 mẫu), Từ Liêm (1 mẫu) và Thanh Xuân (1 mẫu), đại diện cho các khu vực có mật độ dân cư và đặc điểm không gian sống khác nhau. Cỡ mẫu khảo sát gồm 10 mẫu bụi không khí được thu thập từ bề mặt phòng khách như mặt bàn, ghế sofa, nóc tủ, máy điều hòa bằng máy hút bụi chuyên dụng Electrolux ZUSG4061 vào tháng 6/2018. Mẫu sau đó được đồng nhất và rây qua lưới rây 250 µm nhằm giữ lại phân đoạn hạt bụi mịn mà con người dễ tiếp xúc và hít phải.

Quy trình chiết tách sử dụng phương pháp chiết hỗ trợ siêu âm (UAE): 1,0 g mẫu bụi được bổ sung 50 µL hỗn hợp chuẩn đồng hành Carbaryl-d7 và Sulfamethoxazole-d4 (nồng độ 4 µg/mL), tiến hành chiết 3 lần với tổng thể tích 50 mL methanol (lần 1 dùng 20 mL siêu âm 20 phút, 2 lần sau mỗi lần dùng 15 mL). Dịch chiết được ly tâm ở tốc độ 2000 vòng/phút trong 10 phút, cô quay chân không về 1 mL, thổi khô bằng dòng khí nitơ tinh khiết đến 0,2 mL, sau đó bổ sung 50 µL chất nội chuẩn Methomyl-d3 (4 µg/mL) và định mức đến 0,5 mL bằng methanol trước khi tiêm vào hệ thống sắc ký.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích sắc ký lỏng ghép nối khối phổ độ phân giải cao thời gian bay (LC-QTOF-MS) ở chế độ thu nhận dữ liệu tuần tự SWATH (hệ thống Sciex X500R) là nhờ khả năng phân tách sắc ký tối ưu trên cột GL Science ODS-4 HP (kích thước 150 mm x 2,1 mm, 3 µm), vận hành ở tốc độ dòng 0,3 mL/phút với nhiệt độ cột 40°C. Chế độ SWATH quét đồng thời dải khối TOF-MS và TOF MS/MS từ 50 đến 1000 Da trên 22 dải khối phân đoạn, độ phân giải đạt 30.000, giúp loại bỏ triệt để hiện tượng nhiễu nền phức tạp từ mẫu bụi đô thị và xác nhận chính xác các mảnh ion định lượng mà phương pháp sắc ký thông thường không thực hiện được. Toàn bộ quá trình thực nghiệm và kiểm soát chất lượng QA/QC được tiến hành nghiêm ngặt theo hướng dẫn SMEWW 1020A và 1020B từ năm 2018 đến năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình thẩm định phương pháp phân tích trên thiết bị LC-QTOF-MS-SWATH đã thiết lập thành công các thông số kỹ thuật tối ưu. Giới hạn phát hiện của thiết bị (IDL) đạt 1,0 pg cho cả hai hoạt chất. Giới hạn phát hiện của phương pháp (MDL) được xác định ở mức 0,004 µg/g (tương đương 4 ng/g) và giới hạn định lượng (LOQ) đạt 0,01 µg/g (tương đương 10 ng/g) cho cả Imidacloprid và Thiamethoxam.

Đường chuẩn định lượng trong khoảng nồng độ từ 0,1 ppb đến 1000 ppb xây dựng trong dung môi methanol thể hiện độ tuyến tính cao. Phương trình đường chuẩn của Imidacloprid đạt y = 0,03178x + 0,00126 với hệ số tương quan R2 = 0,97329; phương trình của Thiamethoxam đạt y = 0,04828x + 0,00021 với R2 = 0,94368.

Đánh giá hiệu suất thu hồi trên 10 mẫu bụi thử nghiệm có bổ sung chất chuẩn đồng hành cho thấy hiệu suất thu hồi tổng thể dao động từ 62,0% đến 107,2%. Trong đó, chất chuẩn đồng hành Carbaryl-d7 đạt độ thu hồi trung bình 91,36% với độ lệch chuẩn tương đối RSD là 11,45%; Sulfamethoxazole-d4 đạt độ thu hồi trung bình 70,07% với RSD là 9,93%. Kết quả này hoàn toàn thỏa mãn các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng quốc tế đối với phân tích vi lượng độc chất môi trường (độ thu hồi yêu cầu 40% - 120%, RSD dưới 15%).

Khảo sát nồng độ thực tế tại 10 vị trí lấy mẫu thuộc 6 quận nội thành Hà Nội phát hiện sự có mặt của Imidacloprid và Thiamethoxam trong bụi không khí nhà ở với nồng độ biến thiên tùy thuộc vào vị trí địa lý và đặc điểm sinh hoạt của từng hộ gia đình.

Thảo luận kết quả

Sự xuất hiện của Imidacloprid và Thiamethoxam trong bụi không khí trong nhà tại các quận nội thành Hà Nội bắt nguồn từ hai nguồn phát thải chính: việc sử dụng các chế phẩm xịt diệt côn trùng gia dụng (muỗi, gián, kiến, bọ chét cho thú nuôi) và sự khuếch tán dư lượng hóa chất nông nghiệp theo luồng gió từ các vùng trồng rau, hoa ven đô vào khu vực trung tâm.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, mức độ ô nhiễm Neonicotinoids trong bụi nhà ở Hà Nội có sự tương đồng nhất định. Tại Trung Quốc, nồng độ Imidacloprid trong bụi nhà ở Thái Nguyên ghi nhận ở mức 1,46 ng/g, Vũ Hán đạt 5,26 ng/g và Thâm Quyến đạt 7,24 ng/g với tần suất phát hiện lên tới 99,7%, trong khi nồng độ Thiamethoxam cao nhất tại Vũ Hán đạt 92,1 ng/g. Tại Italia, nồng độ trung bình của Imidacloprid trong bụi trong nhà ghi nhận mức 1,584 µg/g với tần suất phát hiện 30%.

Đánh giá rủi ro sức khỏe qua đường hô hấp được tính toán dựa trên kịch bản tiếp xúc 24 giờ mỗi ngày, với thể tích hít thở 16 m3/ngày đối với người lớn (thể trọng 60 kg) và 10,1 m3/ngày đối với trẻ em (thể trọng 18 kg). Kết quả tính toán chỉ số nguy hại (Hazard Quotient - HQ) đối với cả Imidacloprid và Thiamethoxam đều thấp hơn 1 rất nhiều (HQ <= 1). Điều này khẳng định mức độ phơi nhiễm hai hoạt chất Neonicotinoids qua đường hít thở bụi nhà tại nội thành Hà Nội hiện nằm trong ngưỡng an toàn chấp nhận được, chưa gây rủi ro cấp tính hay mãn tính tức thời cho sức khỏe cư dân.

Toàn bộ dữ liệu thực nghiệm được xử lý thống kê trên phần mềm Minitab 16 và Microsoft Excel, đồng thời được trực quan hóa thông qua các sắc ký đồ dòng ion chiết xuất (XIC) thể hiện rõ thời gian lưu đặc trưng của Imidacloprid ở 12,029 phút và Thiamethoxam ở 9,746 phút, biểu đồ phân bố nồng độ theo từng quận và bảng so sánh đa biến tương quan nồng độ.

Đề xuất và khuyến nghị

Xây dựng và ban hành Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về giới hạn dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong không khí và bụi nội thất: Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thiết lập ngưỡng kiểm soát tối đa cho phép đối với nhóm Neonicotinoids trong nhà ở mức dưới 0,05 µg/g bụi, hoàn thành khung tiêu chuẩn trong giai đoạn 2024–2026.

Mở rộng mạng lưới quan trắc chất lượng không khí nội thất tại 100% các đô thị loại I: Tổng cục Môi trường và các Trung tâm Quan trắc môi trường địa phương triển khai chương trình lấy mẫu bụi định kỳ 6 tháng/lần, mở rộng quy mô khảo sát lên trên 500 điểm mẫu tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2025.

Chuẩn hóa và chuyển giao quy trình phân tích LC-QTOF-MS-SWATH: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức tập huấn kỹ thuật cho các phòng thí nghiệm kiểm nghiệm môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm trên cả nước, đảm bảo duy trì hiệu suất thu hồi trên 85% và rút ngắn thời gian xử lý mẫu xuống dưới 45 phút/mẫu trong vòng 12 tháng tới.

Tuyên truyền và hướng dẫn cộng đồng thực hành vệ sinh không gian sống an toàn: Ủy ban Nhân dân các quận/huyện và trạm y tế cơ sở đẩy mạnh truyền thông khuyến khích người dân giảm 30% tần suất sử dụng bình xịt diệt côn trùng hóa học, thay thế bằng các biện pháp sinh học, đồng thời duy trì hút bụi định kỳ tối thiểu 2 lần/tuần bằng máy hút bụi trang bị màng lọc HEPA để giảm 50% lượng tích tụ bụi mịn chứa độc chất hữu cơ trong vòng 6 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên sau đại học ngành Hóa phân tích và Độc chất học môi trường: Tiếp cận phương pháp thiết lập các thông số phân mảnh khối phổ MS/MS trên hệ thống LC-QTOF-SWATH hiện đại, cách thức xử lý nền mẫu sinh thái phức tạp và quy trình đảm bảo chất lượng QA/QC theo chuẩn quốc tế.

Kỹ thuật viên và chuyên viên phân tích tại các phòng thí nghiệm quan trắc: Ứng dụng trực tiếp quy trình chiết siêu âm bằng dung môi methanol và chương trình sắc ký gradient để định lượng vết các hoạt chất bảo vệ thực vật trong nền mẫu bụi và không khí xung quanh.

Cán bộ quản lý tại các cơ quan quản lý môi trường và y tế công cộng: Sử dụng các số liệu thực nghiệm định lượng và kết quả đánh giá chỉ số rủi ro HQ làm cơ sở khoa học để hoạch định chính sách, xây dựng hướng dẫn kiểm soát ô nhiễm không khí trong nhà.

Kỹ sư môi trường, kiến trúc sư và chuyên gia tư vấn công trình xanh: Tham khảo các phát hiện về sự tích tụ bụi lắng trên đồ nội thất để tính toán thiết kế hệ thống cấp khí tươi, tối ưu hóa hệ thống lọc bụi mịn và lựa chọn vật liệu hoàn thiện thân thiện với sức khỏe người sử dụng.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt chất Imidacloprid và Thiamethoxam là gì và tại sao lại xuất hiện trong bụi nhà?

Imidacloprid và Thiamethoxam là hai hoạt chất trừ sâu thuộc nhóm Neonicotinoids, chiếm 25% thị phần nông dược toàn cầu tại hơn 120 quốc gia. Trong nhà, chúng hiện diện do việc sử dụng bình xịt diệt côn trùng, chế phẩm trị bọ chét cho vật nuôi hoặc khuếch tán từ vùng canh tác nông nghiệp ngoại thành vào không gian sống.

Vì sao phương pháp LC-QTOF-MS-SWATH lại vượt trội trong nghiên cứu này?

Kỹ thuật LC-QTOF-MS-SWATH vận hành ở độ phân giải 30.000 kết hợp chia nhỏ dải quét thành 22 dải khối phân đoạn. Phương pháp này cho phép thu nhận dữ liệu phân mảnh của toàn bộ ion phân tử trong một lần chạy, loại bỏ triệt để tín hiệu nhiễu nền phức tạp từ bụi đô thị và định lượng chính xác ở nồng độ vết.

Giới hạn phát hiện (MDL) và giới hạn định lượng (LOQ) của quy trình đạt mức bao nhiêu?

Phương pháp đạt giới hạn phát hiện thiết bị IDL là 1,0 pg. Giới hạn phát hiện phương pháp (MDL) đạt 0,004 µg/g (tương đương 4 ng/g) và giới hạn định lượng phương pháp (LOQ) đạt 0,01 µg/g (tương đương 10 ng/g) cho cả Imidacloprid và Thiamethoxam, đáp ứng hoàn hảo yêu cầu phân tích vết độc chất.

Chỉ số nguy hại (HQ) của Neonicotinoids trong bụi nhà ở Hà Nội có ở mức an toàn không?

Chỉ số nguy hại HQ tính toán cho cả người lớn (thể trọng 60 kg) và trẻ em (thể trọng 18 kg) đối với Imidacloprid (liều tham chiếu 0,057 mg/kg/ngày) và Thiamethoxam đều nhỏ hơn 1 (HQ <= 1). Kết quả khẳng định mức độ phơi nhiễm qua đường hô hấp tại các địa điểm khảo sát hiện nằm trong giới hạn an toàn.

Quy trình chuẩn bị mẫu bụi trước khi đưa vào máy LC-MS được thực hiện như thế nào?

Quy trình sử dụng 1,0 g mẫu bụi đã rây qua lưới 250 µm, thêm chất chuẩn đồng hành rồi chiết siêu âm 3 lần với 50 mL methanol trong 20 phút. Sau khi ly tâm 2000 vòng/phút, dịch chiết được cô quay chân không, thổi khô bằng khí nitơ đến 0,2 mL, thêm nội chuẩn Methomyl-d3 và định mức về 0,5 mL.

Kết luận

  • Xây dựng thành công quy trình phân tích đồng thời Imidacloprid và Thiamethoxam trong bụi không khí trong nhà bằng kỹ thuật LC-QTOF-MS-SWATH với độ nhạy cao (MDL đạt 0,004 µg/g, LOQ đạt 0,01 µg/g).
  • Kiểm soát chất lượng thực nghiệm nghiêm ngặt với hiệu suất thu hồi chất chuẩn đồng hành đạt 91,36% (RSD 11,45% cho Carbaryl-d7) và 70,07% (RSD 9,93% cho Sulfamethoxazole-d4).
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng đầu tiên về mức độ hiện diện của hóa chất bảo vệ thực vật nhóm Neonicotinoids trong bụi nhà tại 10 điểm khảo sát thuộc 6 quận nội thành Hà Nội.
  • Đánh giá rủi ro sức khỏe khẳng định chỉ số nguy hại qua đường hô hấp đối với người lớn và trẻ em đều nằm trong ngưỡng an toàn cho phép (HQ <= 1).
  • Kế hoạch triển khai giai đoạn 2024–2026 cần tập trung mở rộng quy mô quan trắc lên 100% đô thị lớn và chuẩn hóa quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí trong nhà.

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn có giá trị cao cho cộng đồng nghiên cứu hóa phân tích, quan trắc môi trường và y tế công cộng. Hãy kết nối với các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu chuyên ngành để tiếp cận toàn văn công trình và ứng dụng quy trình phân tích hiện đại này vào thực tiễn kiểm nghiệm.