CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ MỤC TIÊU PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm hiệu quả tài chính a. Khái niệm hiệu quả Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm hiệu quả được hiểu là “Kết quả như yêu cầu của việc làm mạng lại” [16, tr440].
Nhưng theo từ điển LePetit Larousse định nghĩa “Hiệu quả là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định” [15,tr57]. Như vậy, bản chất của hiệu quả chính là kết quả của lao động xã hội, được xác định trong mối quan hệ so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội. Do vậy, thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm hao phí lao động và tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả dựa trên các nguồn lực sẵn có. Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế tổng hợp, được tạo thành bởi tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, nên cầm xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh trên hai mặt hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong đó, hiệu quả kinh tế đóng vai trò quyết định. Hiệu quả xã hội phản ánh lợi ích đạt được từ quá trình sản xuất kinh doanh. Hiệu quả xã hội của hoạt động sản xuất là việc sản xuất, chế tạo ra các sản phẩm tốt hơn về chất lượng, chủng loại đa dạng, số lượng nhiều đáp ứng nhu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội góp phần vào việc cân đối cung cầu, bình ổn giá cả thị trường, mở rộng giao lưu giữa các vùng miền hoặc thậm chí là giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ.
Ngoài ra, hoạt động sản xuất ngày càng phát triển mở rộng giúp tạo công ăn việc làm nhằm giải quyết vấn Luan van 9 đề thất nghiệp, từ đó có tác động giảm các tệ nạn xã hội gây ra bởi thất nghiệp, từ đó góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và môi trường trở nên lành mạnh hơn. Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, vốn, đất đai…) nhằm đạt được những mục tiêu xác định. Trình độ sử dụng nguồn lực chỉ có thể đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét rằng mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể ra kết quả ở mức độ nào. Như vậy, hiệu quả kinh tế có thể được xác định dựa trên cơ sở so sánh kết quả đầu ra với nguồn lực đầu vào.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết, ảnh hưởng tác động lẫn nhau. Cả hai vừa thống nhất nhưng lại vừa mâu thuẫn. Hiệu quả kinh tế có thể đo lường bằng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nên dễ dàng xác định ở mức độ tổng hợp hoặc đặc thù. Còn ngược lại, hiệu quả xã hội khó xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể mà chỉ có thể đánh giá thông qua những biểu hiện của đối tượng xã hội của một dịa phương, một vùng lãnh thổ, một nền kinh tế quốc dân.
Chính vì thế, khi phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì người ta thường phân tích hiệu quả kinh tếvà đan xen vào đó hiệu quả xã hội. Khái niệm hiệu quả tài chính doanh nghiệp Hiệu quả tài chính là một phạm trù rộng lớn rộng lớn. Ở đây, trong phạm của đề tài đang nghiên cứu thì tác giả chỉ đề cập đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Để có thể khái niệm hiệu quả tài chính doanh nghiệp thì ta cần phải hiểu thế nào là tài chính doanh nghiệp.
Theo tác giả Nguyễn Năng Phúc (2006) thì “Như vậy, xét về bản chất thì các mối quan hệ tiền tệ và các quỹ tiền tệ là hình thái biểu hiện bề ngoài của tài chính doanh nghiệp, mà đằng sau nó ẩn dấu những quan hệ kinh tế phức Luan van 10 tạp, những luồng dịch chuyển giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ” [11, tr67]. Tác giả Nguyễn Minh Kiều (2013) cho rằng “Tài chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra” [7,tr27]. Tác giả Nguyễn Hòa Nhân (2013) thì cho rằng “Như vậy hoạt động tài chính doanh nghiệp gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các tiền tệ phục vụ cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Xét về bản chất đó, chính là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình hoạt động doanh nghiệp nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp” [10, tr14].
Có thể tóm lại, tài chính doanh nghiệp là toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Xuất phát từ khái niệm của tài chính doanh nghiệp thì hiệu quả tài chính doanh nghiệp có thể được hiểu là hiệu quả gắn liền đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu của mình, tác giả chỉ phân tích hiệu quả tài chính ở khía cạnh hiệu quả của việc sử dụng vốn của doanh nghiệp để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thông qua việc đánh giá một số chỉ tiêu chỉ tiêu tài chính có liên quan.Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình hay vô hình của doanh nghiệp được đầu tư vào kinh doanh để sinh lời. Vì vậy, hiệu quả của việc sử dụng vốn cũng là hiệu quả của việc sử dụng tài sản.
Mục tiêu của phân tích hiệu quả tài chính doanh nghiệp Cũng giống như mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp, mục tiêu phân tích hiệu quả tài chính doanh nghiệp đứng trên các vị trí nhà phân tích Luan van 11 khác nhau thì sẽ có những mục tiêu phân tích khác nhau. Thông thường thì các nhà phân tích sẽ đứng trên ba góc độ phân tích cơ bản: nhà quản trị, nhà đầu tư, người cho vay[10]. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp Trong các đối tượng phân tích hiệu quả tài chính doanh nghiệp thì nhà quản trị có nhiều thông tin nhất và cũng hiểu rõ về doanh nghiệp nên họ có điều kiện để phân tích tích hiệu quả tài chính doanh nghiệp một cách đầy đủ toàn diện nhất. Nhà quản trị doanh nghiệp với tư cách là người điều hành, quản lý doanh nghiệp thì mục tiêu phân tích hiệu quả tài chính của doanh nghiệp nhằm đánh giá thực trạng hiệu quả tài chính của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại và dự đoán xu hướng hiệu quả tài chính của doanh nghiệp ở trong tương lai; tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân gây ra; tìm ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
Từ đó, nhà quản trị doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định quản trị ngắn hạn hoặc dài hạn đúng đắn, phù hợp để giúp cho doanh nghiệp có thể tiếp tục tồn tại và phát triển. Đối với các nhà đầu tư của doanh nghiệp Nhà đầu tư vào doanh nghiệp bao gồm những cổ đông sẵn có của doanh nghiệp và những cá nhân, tập thể đang có ý định đầu tư vào doanh nghiệp. Nhà đầu tư phân tích hiệu quả tài chính của doanh nghiệp với mục đích duy nhất là phục vụ hoạt động đầu tư của mình.Vì vậy, mục tiêu phân tích hiệu quả tài chính của họ nhằm vào đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp ở hiện tại, xem xét triển vọng sinh lời trong tương lai của doanh nghiệp. Trong phân tích, các chỉ tiêu tài chính họ quan tâm nhất chính là các chỉ tiêu thể hiện khả năng sinh lời.
Đối với chủ nợ của doanh nghiệp Chủ nợ của doanh nghiệp có thể là ngân hàng, nhà cung cấp, cá nhân Luan van 12 hoặc tổ chức người nắm giữ trái phiếu của doanh nghiệp. Những người này tuy cung cấp vốn cho doanh nghiệp dưới các hình thức khác nhau nhưng đều là chủ nợ của doanh nghiệp nên họ quan tâm trên hết đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Trong góc độ phân tích hiệu quả tài chính doanh nghiệp của họ thì tùy theo khoản cho vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn mà mục tiêu phân tích hiệu quả tài chính doanh nghiệp của họ có sự khác biệt nhất định. Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, chủ nợ của doanh nghiệp chỉ quan tâm nhất đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Ngược lại, đối với những cho vay trung hạn và dài hạn thì chủ nợ của doanh nghiệp quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp nhiều hơn. NGUỒN THÔNG TIN SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.Thông tin từ hệ thống báo cáo tài chính a. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát và toàn diện tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Bảng cân đối kế toán cung cấp thông tin về tổng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp và tổng giá trị nguồn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo tài chính.Bảng cân đối kế toán là cơ sở đưa ra nhận xét, đánh giá chung về tình hình tài chính, cơ cấu tài sản tài sản doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả kinh doanh Báo cáo kết quả kinh doanhlà một loại báo cáo tài chính vừa tổng hợp, vừa chi tiết về tình hình kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh. Báo cáo kết quả kinh doanhcung cấp thông tin về DT, chi phí, lời (lỗ) phát sinh từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh; Luan van 13 cũng như là các khoản chi phí thuế và LN thuần. Báo cáo kết quả kinh doanh là một trong những cơ sở đưa ra nhận xét, đánh giá về năng lực kinh doanh và khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính phản ánh tổng hợp, đồng thời phân loại các luồng thu và chi bằng tiền và tương đương tiền củadoanh nghiệp trong kỳ kế toán.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hiện nay có thể lập ra bằng phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp.