CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUA SỬ DỤNG VÓN LƯU ĐỘNG 1. Khái niệm Không giống như tư liệu lao động, đối tượng lao động là yếu tố quan trọng và rất cần thiết đối với một doanh nghiệp. Đối tượng lao động bao gồm: nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, sản phẩm, sản phẩm do dang,. Những đối tượng lao động này khi tham gia quá trình sản xuất, không còn là hình thái vật chất ban đầu và giá trị của chúng được chuyền đổi hoàn toàn vào giá trị của sản phẩm và chỉ tham gia vào một chu kỳ SXKD.
Sang một chu kỳ SXKD mới thì sẽ có những đối tượng lao động mới. Trong doanh nghiệp các đối tượng lao động này là các TSLĐ. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyên trong chu trình SXKD. Trong BCDKT của doang nghiệp, TSLĐ được thé hiện ở các bộ phận: tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho.
Mặt khác, để chắc chắn cho quá trình SXKD được hoạt động liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định. Do đó doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn này được gọi là vôn lưu động của doanh nghiệp. Có rất nhiều khái niệm về vốn lưu động được đưa ra cả quốc tế lẫn trong nước.
Ross và các cộng sự (2009) đã phát biểu khái niệm về VLĐ là: “The term working capital refers to a firm’s short-term assets, such as inventory, and its short-term liabilities, such as money owed to suppliers”. Tam dich la: “Thuat ngtr vốn lưu động dé cập tới các tài sản trong ngắn hạn của doanh ngiệp như hang tồn kho, và các hoản nợ ngắn hạn như tiền nợ nhà cung cấp”. Khái niệm trên tuy không đề cập một cách trực tiếp nhưng đã hàm ý rằng vốn lưu động gồm có các TSNH và nguồn tài trợ ngắn hạn cho các tài sản đó. Cũng đưa ra cùng quan điểm trên còn có nghiên cứu của Beck và các cộng sự (2012).
Như vậy có thể nhận định rằng, việc nghiên cứu đánh giá về vốn lưu động sẽ liên quan mật thiết đến việc đánh giá các khoản mục tài sản ngăn hạn và các khoản mục nợ ngăn hạn. Trên một góc nhìn khác, chuyên gia người Mỹ James Sagner (2010) đã đưa ra định nghĩa: “Working capital is the arithmetic difference between two balance sheet aggregate accounts: current assets and current liabilities”. Có ngĩa là: Vốn lưu động là sự chênh lệch giữa hai khoản mục TSNH va nợ ngắn hạn trên bảng cân đối kế toán. Nguyễn Dinh Kiệm và Bạch Đức Hiển (2012) đã đưa ra khái niệm về vốn lưu động như sau: “Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra dé hình thành nên các tài sản lưu động nhăm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên và liên tục.” VLĐ luân chuyên toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi, hoàn thành một vòng luân chuyên khi kết thúc một chu kỳ SXKD.
Cùng quan điểm trên Trần Đình Tuấn (2008) đã phát biểu rằng: “Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước dé đầu tư, mua sắm tai sản lưu động của doanh nghiệp, nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện một cách thường xuyên liên tục”. Ngoài ra, tác giả Phạm Thanh Bình (2009) cũng nói răng: “Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn mà doanh nghiệp đã sử dụng để mua sắm, hình thành nên tài sản lưu động phục vụ cho quá trình kinh doanh ở một thời điểm nhất định”. Như vậy, qua sự thống nhất quan điểm của các tác giả về khái niệm VLĐ chúng ta có thé nói vốn lưu động chính là biểu hiện băng tiền của tài sản lưu động. Vốn lưu động là số vốn mà công ty phải huy động để tài trợ cho tài sản ngắn hạn (tài sản lưu động, current assets), đó là khoản chênh lệch giữa giá trị tài sản ngắn hạn với các khoản phải trả ngắn hạn 1.
Đặc điểm Trần Đình Tuấn (2008) đã chỉ ra vốn lưu động của doanh nghiệp có các đặc điểm sau: Đặc điểm 1: Vốn lưu động trong quá trình chu chuyền luôn thay đổi hình thái biểu hiện: Sự vận động của vốn lưu động trong doanh nghiệp sản xuất thông qua ba giai đoạn theo trình tự sau: Giai đoạn 1 (T - H): VLD từ hình thái tiền tệ chuyên sang hình thái vật chất là nguyên nhiên vật liệu. Giai đoạn nảy còn gọi là thời kỳ mua nguyên, nhiên, vật liệu. Giai đoạn 2 (H — H’): Vốn lưu động từ hình thái là nguyên nhiên vật liệu chuyên sang hình thái là sản pham sản xuất ra. Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn sản xuất, chế biến.
Giai đoạn 3 (H’ — TỶ): Vốn lưu động từ hình thái hiện vật là sản phẩm sản xuất ra chuyền sang hình thái là tiền tệ ban đầu. Giai đoạn này gọi là giai đoạn tiêu thụ sản phẩm. Sự vận động của vốn lưu động trong doanh nghiệp thương mại thông qua hai giai đoạn, theo trình tự sau: Giai đoạn 1 (T- H): VLD từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật chất (hàng hoá). Giai đoạn nay còn gọi là giai đoạn mua hàng.
Giai đoạn 2 (H — T’): Vốn lưu động chuyên hoá từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ ban đầu và kết thúc một vòng tuần hoàn của VLĐ. Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn bán hàng. Đặc điểm 2: Vốn lưu động chuyền toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kì kinh doanh, thời gian dé hoàn thành một kỳ luân chuyền là tương đối ngắn. Đặc điểm 3: Vốn lưu động kết thức một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ SXKD.
Theo Bạch Đức Hiển và Nguyễn Dinh Kiệm (2012): “Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thê thiếu được của quá trình tái sản xuất. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ tiền vốn đầu tư vào các hình thái khác nhau của vốn lưu động, khiến cho các hình thái có được mức tồn tai hợp lý và đồng bộ với nhau”. Như vậy sẽ tạo điều kiện cho chuyền hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi, góp phan tăng tốc độ luân chuyên vốn lưu động, tăng hiệu suất sử dụng vốn lưu động và ngược lại. Vì vậy, khi các doanh nghiệp hầu hết đều hoạt động theo trong cơ chế tự chủ tài chính như hiện nay, lợi ích của DN và người lao động được gắn chặt với sự luân chuyển của VLĐ.
Doanh thu của DN sẽ càng cao và lượng vốn sử dụng càng được tiết kiệm, cắt giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lý,. khi vòng quay của vốn được day nhanh. Qua đó, DN có nhiều cơ hội thuận lợi tích tụ vốn dé mở rộng SXKD, liên tục cải thiện đời sống của CBCNV trong doanh nghiệp. Vai trò Trong tiến trình hoạt động và phát triển, lúc đầu, một lượng vốn cần được DN bỏ ra để phục vụ việc thiết lập, xây dựng khung cơ bản của doanh nghiệp: máy móc, thiết bị, cơ sở vật chất.
Đây là nền tảng cơ bản của doanh nghiệp. Khi đi vào hoạt động, để phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh không bị ngắt quãng, doanh nghiệp cần duy trì một lượng vốn dé phục vụ các nhu cầu hàng ngày của minh. Tuy từng giai đoạn, vốn lưu động được phân bé và tồn tại với những mức độ và hình thức riêng biệt và khác nhau. Điều này giúp cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp không bị gián đoạn.
Cho thấy, vốn lưu động là yếu tố tiên quyết dé quá trình SXKD của DN được tiến hành. Mặt khác, VLD bao đảm cho quá trình tái sản xuất của DN được diễn ra một cách liên tục, thường xuyên, đúng tiến độ. Đây còn là công cụ giúp phản ánh, đánh giá quá trình mua săm, dự trữ vật tư nguyên liệu, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của DN. Nhân tố thiết yếu tạo nên giá thành cau một sản phẩm đó là VLD do đặc điểm VLĐ chuyển dịch toàn bộ một lần giá trị vào giá trị sản phẩm.
Giá trị của hàng hóa bán ra được xác định trên cơ sở thỏa lập được toàn bộ chi phí tạo ra sản phẩm (giá thành sản phẩm) và một phần là lợi nhuận mà DN mong muốn khi thực hiện SXKD sản phẩm. Bởi vậy, VLĐ giữ vai trò quyết định trong việc đưa ra giá cả hàng hóa bán ra. Quy mô hoạt động của doanh nghiệp một phần được quyết định bởi VLĐ. DN hoàn toàn có thể tự chủ trong việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của DN, cần phải huy động một lượng vốn nhất định đề đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa.
VLĐ còn giúp cho DN nắm bắt được thời cơ kinh doanh, làm gia tăng lợi thế cạnh tranh cho DN. Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2012), “Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình vận động của vật tư. Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn phản ánh sự vận động của vật tư. Số vốn lưu động nhiều hay ít là phản ánh số lượng vật tư hàng hoá dự trữ sử dụng ở các khâu nhiều hay ít.
Vốn lưu động luân chuyên nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không. Thời gian nam ở khâu sản xuất và lưu thông có hợp lý hay không hợp lý.” Bởi vậy, có thể kiểm tra đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của DNthông qua tình hình luân chuyển VLD Từ đây ta thấy, VLĐ có vai trò quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp; việc quản lý và sử dụng nguồn vốn này sẽ dẫn đến tác động trực tiếp đến hiệu quả SXKD của DN. Phân loại Một bộ phận trọng yếu trong công tác quản trị hoạt động tài chính của DN đó chính là hoạt động quan tri vốn lưu động. Thực hiện quản tri vốn lưu động nhằm đảm bảo nguồn VLĐ được sử dụng một cách hợp lý, đúng mục đích nhưng phải tiết kiệm và mang lại hiệu quả tối ưu.
VLD được doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả càng cao thì DN càng có thể sản xuất được nhiều loại sản phẩm, quá trình mua sắm nguyên nhiên vật liệu, sản xuất và tiêu thu sản phẩm càng được tô chức tốt. Do vốn lưu động có nhiều loại khác nhau, cùng góp mặt vào một chu kỳ SXKD và liên tục chuyên đồi hình thái vật chất nên dé quản trị tốt VLD chúng ta phải tiến hành thật tốt bước phân loại VLĐ.