Chương 1: Lý luận cơ bản về phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn Lâm nghiệp Sông Kôn. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn Lâm nghiệp Sông Kôn. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Mỗi doanh nghiệp, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh có các nhiệm vụ mục tiêu hoạt động khác nhau. Ngay trong mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng có các mục tiêu khác nhau. Nhưng trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp đều có mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận.
Để đạt được mục tiêu này, mọi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp thích ứng với các biến động của thị trường, phải thực hiện việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh, phải kế hoạch hóa các hoạt động của doanh nghiệp và đồng thời phải tổ chức thực hiện chúng một cách có hiệu quả. Đứng trên nhiều góc độ khác nhau sẽ có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Điển hình như nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá” [13]. Như vậy, hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh.
Kết quả hoạt động kinh doanh có thể tăng lên do tăng chi phí sản xuất hay do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả. Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất. Còn theo Paul Samuelson và Wiliam Dnorlhau (1997) đã cho rằng: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người”.
Theo quan điểm này, với 9 một nguồn lực có hạn của nền kinh tế, nếu chúng ta sử dụng chúng một cách lãng phí, vô nguyên tắc thì sẽ không tạo ra được một số lượng hàng hóa và dịch vụ lớn nhất để thỏa mãn cho nhu cầu tiêu thụ. Ngược lại, cũng với nguồn lực có hạn đó, nhưng nếu chúng ta sử dụng chúng một cách có hiệu quả thì sẽ tạo được một số lượng hàng hóa và dịch vụ lớn nhất để có thể thỏa mãn tốt nhất cho nhu cầu tiêu thụ của con người. Là một nội dung cấu thành hiệu quả của nền sản xuất xã hội, hiệu quả kinh doanh đã được nghiên cứu và đề cập đến rất nhiều trong các tài liệu về kinh tế học, phân tích kinh doanh, tài chính. cũng như các đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cả ở Việt Nam và trên thế giới.
Từ giữa thế kỷ XVIII, nhà kinh tế học người Anh – Adam Smith và nhà kinh tế học người Pháp – Ogiephric có chung quan điểm: “Hiệu quả kinh doanh là kết quả thu được trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” [11]. Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh đồng nhất với kết quả kinh doanh. Quan điểm này đã không đề cập đến chi phí kinh doanh do vậy nếu kết quả thu được trong hai kỳ kinh doanh như nhau thì hoạt động kinh doanh ở hai kỳ kinh doanh đó đạt được cùng một mức hiệu quả. Tuy nhiên thực tế cho thấy, doanh thu của doanh nghiệp có thể tăng lên nếu chi phí cho đầu tư các nguồn lực đưa vào kinh doanh tăng lên và do đó nếu tốc độ tăng của doanh thu nhỏ hơn tốc độ tăng của chi phí thì trong một số trường hợp, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bị âm, doanh nghiệp bị thua lỗ.
Tác giả Gujaratu Damondar cũng đưa ra: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí” [21]. Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh được xem xét thông qua các chỉ tiêu tương đối. Khắc phục được hạn chế của các quan điểm trước đó, quan điểm này đã phán ánh mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, phản ánh sự vận động của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, đặc 10 biệt phản ánh được sự tiến bộ của hoạt động kinh doanh trong kỳ thực hiện so với các kỳ trước đó. Trong cuốn “Kinh tế học” xuất bản vào những năm 80 của thế kỷ XX, hai nhà kinh tế học hiện đại nổi tiếng – Paul Samuelson và William D’Nordhau đã nêu quan điểm: Hiệu quả kinh doanh phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp [21].
Theo quan điểm này, để xác định hiệu quả kinh doanh cần phải đánh giá các nguồn lực được sử dụng trong quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh là tiết kiệm hay lãng phí và việc đánh giá này là hoàn toàn có thể xác định được. Tuy nhiên, việc sử dụng như thế nào để được xem là hữu hiệu nhất vẫn đang còn là một tiêu chuẩn mang tính chất trừu tượng vì nó chỉ mới dừng lại ở khả năng vận dụng nguồn lực đầu vào chứ không đề cập đến các kết quả đầu ra và mối quan hệ vận động tương quan giữa chúng. Như vậy, nếu vận dụng quan điểm này trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ không có một mức chuẩn cụ thể để đánh giá việc sử dụng nguồn lực thế nào là hữu hiệu nhất.Rusanop trong tác phẩm “đánh giá kinh tế tài nguyên khoáng sản” đã trích dẫn quan điểm của một số nhà kinh tế Cộng hòa liên bang Nga về hiệu quả kinh doanh, theo đó: Hiệu quả kinh doanh là một bộ phận quan trọng nhất của toàn bộ chiến lược kinh tế, và chỉ ra rằng để giải quyết các nhiệm vụ kinh tế - xã hội hiện nay không có con đường nào khác là tăng nhanh hiệu quả của nền sản xuất xã hội [21]. Tóm lại, mỗi quan điểm về hiệu quả kinh doanh đều chứa đựng những ưu nhược điểm riêng của nó.
Qua những phân tích, đánh giá trên, tác giả đã rút ra một khái niệm hiệu quả kinh doanh chung nhất để vận dụng trong luận văn, theo đó: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh doanh; trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra với 11 mức chi phí thấp nhất trong điều kiện kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, được biểu hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế đặc trưng. Bản chất của hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề hết sức phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều khía cạnh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như lao động, nguyên vật liệu, năng lượng, các yếu tố kỹ thuật và thời gian được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm được thực hiện qua một hay nhiều quá trình sản xuất. Khái niệm hiệu quả kinh doanh đã cho thấy bản chất của nó là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu xét đến mục tiêu phát triển lâu dài của doanh nghiệp thì kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh cần có phần tích lũy để tái sản xuất mở rộng chứ không chỉ đủ bù đắp chi phí.
Đồng thời, sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào việc điều phối hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào để có thể kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội sao cho hiệu quả kinh tế tăng sẽ kéo theo hiệu quả xã hội tăng hoặc ít nhất là không suy giảm. Vì vậy, nếu doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế cao nhưng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội lại không đạt được thì cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả trong kỳ kinh doanh đó. Có thể giải thích vấn đề này như sau: Trước hết, về phía doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh đo lường trình độ sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp, do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Kinh doanh có hiệu quả không những giúp cho doanh nghiệp đảm bảo quá trình tái sản xuất, nâng cao chất lượng 12 sản phẩm sản xuất,… mà còn nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường.
Tiếp theo, đối với xã hội, hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp có tác động đến nhiều mặt hoạt động của xã hội. Có thể thấy, khi hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên sẽ góp phần gia tăng sức mạnh của nền kinh tế quốc dân, như: tăng tổng sản phẩm quốc dân, tăng nguồn thu cho ngân sách, tăng lực lượng lao động được sử dụng, cải thiện đời sống nhân dân,… bởi doanh nghiệp là một tế bào của xã hội, tham gia đóng góp vào sự tồn tại và phát triển của xã hội. Từ đó, tác giả đã đi đến kết luận rằng, việc đánh giá hiệu quả kinh doanh phải được đánh giá một cách toàn diện cả về hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Tuy nhiên, phạm trù hiệu quả xã hội lại là một phạm trù khó xác định chính xác vì khó có thể đo lường bằng những con số cụ thể mà thông qua sự cảm nhận.
Hiệu quả xã hội thu được chính là sự đóng góp của doanh nghiệp đối với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung. Hiệu quả xã hội cũng có thể được đánh giá một cách định tính hoặc hoàn toàn định lượng. Về mặt định lượng, hiệu quả xã hội thể hiện ngay ở mức đóng góp của doanh nghiệp cho ngân sách (như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế tài nguyên,…); số lao động được tạo việc làm;… Về mặt định tính, hiệu quả xã hội được đánh giá qua cảm nhận về đóng góp của doanh nghiệp với xã hội như: đóng góp vào việc nâng cao trình độ kỹ thuật của nền sản xuất xã hội khi doanh nghiệp đầu tư nâng cấp, thay đổi trang thiết bị; những tác động tích cực hoặc tiêu cực tới môi trường do việc sử dụng các yếu tố đầu vào hay do chất thải từ đầu ra của doanh nghiệp;… 13 1.