Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2010 - 2015, Việt Nam đã phân bổ nguồn lực xấp xỉ 1 tỷ USD để phát triển hạ tầng giao thông nông thôn tại hơn 50 tỉnh, thành phố nhằm đẩy mạnh chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tại tỉnh Kiên Giang, chính quyền địa phương đã huy động trên 1.960 tỷ đồng vốn đầu tư để nâng cấp và xây mới 2.370 km đường, nâng tổng chiều dài mạng lưới đường giao thông nông thôn được kiên cố hóa lên 4.258 km, đạt tỷ lệ che phủ trên 60%. Trong bối cảnh đó, huyện biên giới Giang Thành (được thành lập năm 2009 theo Nghị quyết số 29/NQ-CP) đối mặt với thách thức hạ tầng giao thông chia cắt, gây cản trở phát triển kinh tế trên hơn 31.190 ha đất nông nghiệp và 42,8 km đường biên giới giáp Campuchia.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng biến đổi sinh kế và định lượng các nhân tố tác động đến xác suất tăng thu nhập của các hộ gia đình sau khi hệ thống đường giao thông nông thôn được đưa vào khai thác giai đoạn 2015 - 2016. Đề tài khảo sát chuyên sâu tại 5 xã biên giới gồm Phú Mỹ, Phú Lợi, Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều và Vĩnh Phú. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa hiệu quả đầu tư công đối với an sinh xã hội, cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho việc điều chỉnh quy hoạch giao thông huyện Giang Thành đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 theo Quyết định số 2770/QĐ-UBND, hướng tới mục tiêu giảm nghèo đa chiều bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2003) kết hợp với lý thuyết tiếp cận sinh kế của Robert Chambers và Gordon Conway (1992). Mô hình tập trung phân tích sự tương tác giữa 5 nguồn vốn sinh kế: vốn con người (học vấn, chuyên môn, quy mô lao động), vốn tự nhiên (đất đai sản xuất), vốn vật chất (nhà ở, phương tiện, hạ tầng đường bộ), vốn tài chính (tiền mặt, tín dụng, tích lũy) và vốn xã hội (mối quan hệ cộng đồng, uy tín).

Hạ tầng giao thông nông thôn được tiếp cận dưới góc độ lý thuyết kinh tế học về hàng hóa công thuần túy của John M. Keynes (1936) và các nghiên cứu của Sach - Larrain (1993), mang hai thuộc tính cơ bản là không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ. Hệ thống đường giao thông đóng vai trò nguồn vốn vật chất nền tảng, tạo hiệu ứng lan tỏa giúp hộ gia đình chuyển dịch chiến lược sinh kế từ nông nghiệp truyền thống sang thương mại, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ vận tải. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn theo quy định Luật Xây dựng năm 2014, thu nhập hộ gia đình và tính dễ bị tổn thương trong quá trình hội nhập kinh tế biên mậu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Giang Thành, các quyết định quy hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011 - 2015 với nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất (chọn mẫu thuận tiện kết hợp ngẫu nhiên theo tuyến đường) được triển khai trên cỡ mẫu 100 chủ hộ sinh sống dọc các trục đường mới hoàn thành. Quy mô mẫu 100 quan sát đáp ứng công thức xác định cỡ mẫu theo tỷ lệ với độ tin cậy 95%, sai số biên cho phép 10% và thỏa mãn điều kiện thực nghiệm của Green (1991) cho mô hình hồi quy với công thức n ≥ 50 + 8k (k = 6 biến độc lập, yêu cầu tối thiểu 98 quan sát).

Dữ liệu được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS và Microsoft Excel. Tác giả áp dụng kỹ thuật thống kê mô tả để so sánh các chỉ tiêu kinh tế - xã hội trước và sau đầu tư. Mô hình hồi quy Binary Logistic được lựa chọn làm công cụ phân tích trọng tâm vì biến phụ thuộc mang tính nhị phân (Y = 1: thu nhập hộ gia đình tăng; Y = 0: thu nhập giữ nguyên hoặc giảm). Độ tin cậy của mô hình được kiểm định nghiêm ngặt thông qua kiểm định Omnibus đối với độ phù hợp chung, kiểm định Wald cho từng hệ số hồi quy riêng lẻ và hệ số xác định Nagelkerke R² để đo lường mức độ giải thích biến thiên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa trên 100 hộ gia đình tại huyện Giang Thành mang lại các kết quả định lượng cụ thể:

  • Chuyển biến cơ cấu thu nhập: Trước khi có đường mới, 91% số hộ (91 hộ) có mức thu nhập bình quân từ 5 - 10 triệu đồng/tháng, chỉ 9% (9 hộ) đạt mức 10 - 15 triệu đồng/tháng. Sau khi đường giao thông hoàn thiện, số hộ ở nhóm 5 - 10 triệu đồng/tháng giảm mạnh xuống còn 31% (31 hộ), trong khi nhóm thu nhập 10 - 15 triệu đồng/tháng tăng vọt lên 66% (66 hộ) và xuất hiện 3% (3 hộ) đạt mức 15 - 20 triệu đồng/tháng. Tổng cộng có 64% số hộ xác nhận thu nhập tăng trưởng rõ rệt.
  • Tiếp cận dịch vụ công và văn hóa: 82% số hộ đánh giá khả năng tiếp cận hàng hóa và dịch vụ thương mại được cải thiện nhanh chóng; 81% số hộ ghi nhận điều kiện khám chữa bệnh y tế và học tập giáo dục tốt hơn trước; 66% số hộ nhận thấy đời sống văn hóa thông tin có bước phát triển tích cực.
  • Đặc điểm nhân khẩu học: 51% chủ hộ là nam giới, 49% là nữ giới. Về cơ cấu độ tuổi, 81% chủ hộ nằm trong độ tuổi lao động (trong đó nhóm tuổi từ 31 - 60 chiếm 74%). Trình độ học vấn cấp trung học phổ thông đạt 41%, cấp 2 đạt 20%, cấp 1 chiếm 7% và có tới 32% không qua trường lớp chính quy. Trình độ chuyên môn ghi nhận 79% không có chuyên môn kỹ thuật, 10% đạt trình độ trung cấp - cao đẳng và 11% có trình độ đại học hoặc sau đại học.
  • Các yếu tố tác động có ý nghĩa thống kê: Mô hình hồi quy Binary Logistic sau khi loại bỏ các biến không có ý nghĩa thống kê (tuổi và giới tính của chủ hộ có giá trị Sig. > 0,05) đã xác định 4 yếu tố chính tác động đến xác suất tăng thu nhập: Số lao động trong hộ (B = 1,051; Sig. = 0,001), Trình độ chuyên môn (B = 0,717; Sig. = 0,039), Trình độ học vấn (B = 0,168; Sig. = 0,047) và Nghề nghiệp nông nghiệp (B = -1,068; Sig. = 0,089).

Thảo luận kết quả

Kết quả thống kê khi trình bày qua các bảng phân tích tương quan và biểu đồ tần số đã phản ánh rõ rệt quy luật chuyển dịch sinh kế tại vùng nông thôn biên giới. Kiểm định Omnibus của mô hình cho giá trị Chi-square đạt ý nghĩa thống kê cao với Sig. = 0,000 (< 0,001), bác bỏ giả thuyết H0 và khẳng định mô hình hồi quy hoàn toàn phù hợp. Hệ số Nagelkerke R² đạt 0,393 cho thấy 4 biến độc lập giải thích được 39,3% sự biến thiên của xác suất cải thiện thu nhập. Tỷ lệ dự báo chính xác tổng thể của mô hình đạt 75% (trong đó dự báo đúng nhóm tăng thu nhập đạt 85,5%).

Phân tích tác động biên cho thấy biến số lao động trong hộ có ảnh hưởng lớn nhất: khi một hộ gia đình có thêm 1 lao động, xác suất tăng thu nhập từ mức cơ sở 10% sẽ tăng vọt lên 24,67% (tương ứng từ mức 50% tăng lên 74,66%). Việc nâng cao trình độ chuyên môn của chủ hộ thêm 1 bậc giúp nâng xác suất cải thiện thu nhập từ 10% lên 18,54% (từ 50% lên 67,20%). Trình độ học vấn tăng thêm 1 năm đi học nâng xác suất từ mức 10% ban đầu lên 11,59%. Ngược lại, biến nghề nghiệp nông nghiệp mang hệ số âm (B = -1,068), làm giảm xác suất tăng thu nhập từ 10% xuống còn 3,65%. Điều này chứng minh rằng các hộ thuần nông ít có cơ hội tận dụng hạ tầng giao thông để gia tăng giá trị thặng dư so với các hộ chuyển dịch sang làm kinh doanh, thương mại và dịch vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Đẩy mạnh kiên cố hóa mạng lưới giao thông liên ấp: Ủy ban nhân dân huyện Giang Thành cần phối hợp với Sở Giao thông Vận tải tỉnh Kiên Giang tập trung nguồn vốn ngân sách đầu tư bê tông hóa và nhựa hóa 100% các tuyến đường trục liên ấp và nội đồng tại 5 xã biên giới trong giai đoạn 2023 - 2028, nhằm cắt giảm 20 - 30% chi phí vận chuyển nông - thủy sản cho người dân.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo nghề: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giang Thành chủ trì triển khai các lớp dạy nghề ngắn hạn và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho 79% lao động chưa có chuyên môn, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 45% vào năm 2025.
  • Mở rộng quy mô tín dụng chính sách ưu đãi: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Giang Thành cần nâng hạn mức vay vốn sản xuất kinh doanh thêm 15 - 20%/năm cho các hộ gia đình dọc các tuyến đường mới mở, ưu tiên hộ phát triển mô hình kinh tế trang trại và thương mại dịch vụ quy mô vừa và nhỏ.
  • Quy hoạch không gian kinh tế gắn với an ninh biên phòng: Ban Quản lý các khu kinh tế phối hợp với Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang xây dựng các cụm thương mại - logistics tại cửa khẩu Quốc gia Giang Thành, liên kết chặt chẽ mạng lưới giao thông nông thôn với tuyến biên giới 42,8 km nhằm tạo sinh kế phi nông nghiệp lâu dài cho cư dân địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cán bộ quản lý kinh tế, tài chính và quy hoạch tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, tỉnh tham khảo phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư công và lượng hóa lợi ích kinh tế - xã hội để xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách hạ tầng.
  • Các nhà nghiên cứu kinh tế phát triển: Chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và an sinh xã hội ứng dụng khung phân tích DFID kết hợp mô hình kinh tế lượng để thực hiện các đề tài nghiên cứu về sinh kế nông thôn và giảm nghèo bền vững.
  • Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế: Người học tham khảo phương pháp thiết kế công cụ khảo sát thực địa, kỹ thuật chọn mẫu theo chuẩn Green và quy trình thực hiện hồi quy Binary Logistic trên phần mềm SPSS.
  • Các tổ chức phi chính phủ và ban quản lý dự án cộng đồng: Đơn vị điều hành các dự án phát triển nông thôn mới sử dụng kết quả nghiên cứu làm tài liệu đối sánh khi xây dựng các chương trình tài trợ hạ tầng và nâng cao năng lực sinh kế cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao luận văn lại sử dụng mô hình Binary Logistic thay vì mô hình OLS truyền thống?
    Biến phụ thuộc của nghiên cứu là sự thay đổi thu nhập mang tính định tính phân loại nhị phân (1: thu nhập tăng; 0: không tăng hoặc giảm). Mô hình Binary Logistic giúp khắc phục nhược điểm dự báo xác suất vượt ngoài khoảng [0, 1] của mô hình bình phương bé nhất OLS, mang lại tỷ lệ dự báo chính xác đạt 75% với mức ý nghĩa kiểm định Omnibus Sig. = 0,000.
  • Yếu tố nào tác động mạnh nhất đến khả năng tăng thu nhập của hộ gia đình?
    Số lượng lao động trong hộ là nhân tố có tác động mạnh nhất với hệ số hồi quy B = 1,051 và mức ý nghĩa Sig. = 0,001. Khi hộ có thêm 1 lao động, xác suất cải thiện thu nhập từ mức xuất phát 10% sẽ tăng vọt lên 24,67%, cho thấy quy mô lực lượng lao động là động lực cốt lõi khai thác lợi thế đường giao thông.
  • Hạ tầng giao thông mới đã thay đổi mức thu nhập của người dân Giang Thành ra sao?
    Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo có thu nhập từ 5 - 10 triệu đồng/tháng đã giảm từ 91% xuống còn 31%. Ngược lại, nhóm thu nhập khá từ 10 - 15 triệu đồng/tháng tăng mạnh từ 9% lên 66%, ghi nhận 64% tổng số hộ có thu nhập tăng trưởng sau khi hoàn thành công trình đường bộ.
  • Vì sao các yếu tố như độ tuổi và giới tính của chủ hộ lại không có ý nghĩa thống kê?
    Kiểm định Wald cho thấy giá trị Sig. của biến độ tuổi và giới tính đều lớn hơn 0,05. Điều này phản ánh thực tế hạ tầng giao thông là hàng hóa công phục vụ bình đẳng mọi đối tượng; cơ hội nâng cao thu nhập phụ thuộc vào số lao động, trình độ học vấn và kỹ năng chuyên môn chứ không bị giới hạn bởi tuổi tác hay giới tính chủ hộ.
  • Kết quả nghiên cứu tại huyện Giang Thành có thể mở rộng áp dụng cho các địa phương khác không?
    Nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao đối với các huyện thuần nông, khu vực biên giới Tây Nam Bộ có đặc điểm tương đồng. Việc áp dụng khung lý thuyết sinh kế chuẩn hóa DFID và mô hình hồi quy đa biến cho phép các địa phương nhân rộng phương pháp đánh giá để giám sát hiệu quả các chương trình nông thôn mới.

Kết luận

  • Khẳng định hiệu quả to lớn của việc đầu tư hạ tầng giao thông nông thôn tại huyện Giang Thành, giúp nâng cao thu nhập cho 64% số hộ dân và thúc đẩy trên 80% hộ tiếp cận tốt hơn các dịch vụ y tế, giáo dục, thương mại.
  • Chứng minh bằng mô hình định lượng 4 yếu tố then chốt quyết định sinh kế gồm số lao động trong hộ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và sự chuyển dịch ngành nghề phi nông nghiệp.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm phản ánh hạn chế về chất lượng lao động nông thôn (79% chưa có chuyên môn, 32% chưa qua trường lớp), chỉ ra điểm nghẽn cần tháo gỡ.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm hoàn thiện 100% hạ tầng liên ấp, đẩy mạnh đào tạo nghề, mở rộng hạn mức tín dụng 15 - 20%/năm và phát triển kinh tế cửa khẩu đến năm 2030.
  • Thiết lập cơ sở khoa học vững chắc phục vụ việc đánh giá hiệu quả đầu tư công, tạo tiền đề để chính quyền các cấp tối ưu hóa chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững vùng biên giới Tây Nam.