Lời Mở Đầu Trong hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những bước tăng trưởng vượt bậc. Nước ta đang dẫn chuyển mình và bước vào thời kỳ CNH-HĐH. Tốc độ phát triển kinh tế không ngừng gia tăng ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, trong đó phải kể đến sự vượt trội của ngành nông nghiệp. Xuất phát từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, thiếu đói triển miên, đến nay nước ta về cơ bản đã giải quyết được vấn để lương thực, sản lượng ngày một tăng nhanh.
Kim ngạch xuất khẩu lúa gạo, nông sản của Việt Nam không ngừng tăng qua từng năm. Hiện nay Việt Nam đã trở thành một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo cao nhất thế giới. Các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam dần chiếm được vị thế trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, những thành tựu trên chỉ là bể nổi trong nông nghiệp , nông thôn Việt Nam.
Với ưu thế là một quốc gia có truyền thống là trồng lúa nước, gần hơn 80% dân số chuyên sản xuất nông nghiệp và hơn 90% diện tích đất tự nhiên có thể sử dụng cho trồng trọt canh tác, góp phân đáng kể vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế. Tuy vậy, nhìn chung nền nông nghiệp nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, tài nguyên đất, nước ở nhiều vùng vẫn chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả. Cơ sở vật chất — kỹ thuật, máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiép còn yếu kém. Sản phẩm từ nông nghiệp làm ra phần lớn với chất lượng kém, chú yếu tự cung tự cấp trong gia đình.
Thu nhập của người dân còn thấp, đời sống còn nhiều khó khăn. Đa phần người nông dân là thiếu vốn hoặc không có vốn để sản xuất kinh doanh. Với thực trạng trên, Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm, hổ trợ, đầu tư vốn cho hộ sản xuất thông qua hệ thống Ngân hàng NN&PTNT rộng khắp cả nước. Ngân hàng NN&PTNT tổn tại va phát triển góp phần xây dựng và phát triển kinh tế cả nước nói chung và nền sản xuất nông nghiệp nông thôn nói riéng.
Xuất phát từ vai trò, vi tri đó, trong những năm qua Ngân hang NN&PTNH HTN tỉnh Bình Thuận đã không ngừng vươn lên, tự hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu nguồn vốn cho sản xuất phát triển nông nghiệp nông thôn tại huyện nhà, giúp đỡ và hổ trợ nhu câu về nguồn vốn cho người dân sắn xuất. Số hộ khá và có triển vọng làm giàu từ kinh tế trang trại ngày càng tăng. Đời sống của nông dân nhìn chung đã có nhiều chuyển biến tích cực. Bên cạnh đó, cũng còn khá nhiều hộ nông dân vay vốn từ Ngân hàng nông nghiép đầu tư, mở rộng sản xuất nhưng vì nhiều lý do khách quan khác nhau đã sử dụng không hiêu quả vốn vay, mất khả năng chỉ trả hạn trong ngắn hạn buộc Ngân hàng phải hổ trợ cho nông hộ bằng cách gia hạn, ân nợ.
Từ thực tiển trên đây, bằng những kiến thức đã được trang bị trong thời gian học tập tại nhà trường đồng thời được sự giúp đỡ của Ngân hàng NN&PTNT HTN tỉnh Bình Thuận, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu dé tài: “ PHAN TÍCH TINH HÌNH CHO VAY VÀ HIỆU QUA CUA VIỆC SỬ DUNG VỐN VAY TẠI NGÂN HÀNG NN&PTNT HUYỆN HAM THUAN NAM”, nhằm tim ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng nông hộ tại huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do nhận thức về lý luận và thời gian tiếp xúc thực tiễn còn hạn hẹp vì vậy để tài không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định. Rất mong được giáo viên hướng dẫn giúp đỡ để bản thân hoàn chỉnh để tài nhằm góp một phân nhỏ vào việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất nông nghiệp tại địa bàn huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận.2 Mục Đích - Ý Nghĩa Của Đề Tài Tiến hành tìm hiểu qui trình nghiệp vụ cho vay đồng thời phân tích hoạt động tín dụng hộ san xuất kinh doanh trong năm 2003. Từ đó có thể thấy được những kết quả đạt được của Ngân hàng trong năm 2003 và có một cái nhìn tổng quan về Ngân hàng NN&PTNT huyện Hàm Thuận Nam.
Qua Điều tra-ttth từ 101 hộ có vay vốn tại Ngân hàng để phân tích hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn vay trong hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ. Từ những vấn để thu thập được trong quá trình nghiên cứu tìm ra những giải pháp tích cực và hạn chế những tiêu cực trong hoạt động cho vay của Ngân hàng.3 Phạm Vi Nghiên Cứu Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là rất phong phú và phức tạp, mỗi Ngân hàng déu có một thị phân, một cơ cấu sử dụng nguồn vốn riêng của mình nên đòi hỏi sự linh hoạt và nhạy cảm trong mọi hoạt động. Phạm vi nghiên cứu của dé tài chỉ dừng lại ở các hoạt động huy động vốn, cho vay và thu nợ tại NH NN&PTNT huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận, tìm hiểu về hoạt động sản xuất kinh doanh của những hộ dân vay vốn tại Ngân hàng. Có một vài ý kiến về công tác huy động vốn, quá trình cho vay, thu nợ và có ý kiến về hoạt đông kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian tới, qua tìm hiểu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân và đưa ra một cài giải pháp thiết thực giúp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn.
Địa bàn nghiên cứu: Chỉ tập trung tại huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận Thời gian ngiên cứu: Từ ngày 16/02/2004 đến ngày 20/04/2004 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái Niệm Tín Dụng Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tién hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo một thời gian đã thoả thuận. Trong quan hệ giao dịch này thể hiện hai nội dung sau: - Trái chú hay còn gọi là người cho vay chuyển giao cho người thụ trái hay là người đi vay một lượng giá trị nhất định, giá trị này thể hiện dưới hình thức tién tệ hoặc dưới hình thức hiện vật như hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản. -N gười đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn nhất định theo thoả thuận người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay. - Giá trị hoàn trả lại thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm một phần lợi tức.
Trong hoạt động thực tiển, quan hệ tín dụng được hình thành hết sức đa dạng ` 2 ei h g Pa h ^ `x/ và có đủ các loại chủ thé tham gia vào các nw quan hệ tín dung cụ thể. SS RS Wg: BS? Bee weetx Sr ee Ví dụ: Quan hệ giữa nhà nước với các doanh nghiệp và công chúng thể hiện dưới hình thức nhà nước phát hành các giấy nợ như trái phiếu, tín phiếu, công trái, trái phiếu đô thị, tín phiếu kho bạc. Quan hệ tin dụng giữa các doanh nghiệp với nhaw thể hiện dưới hình thức bán chịu hàng hoá - còn gọi là tín dụng thương mại. Quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp với công chúng thể hiện dưới hình thức phát hành các loại trái phiếu, bán hàng trả góp.
Quan hệ tín dụng giữa các Ngân hàng, các tổ chức tài chính phi Ngân hàng với các doanh nghiệp và công chúng thể hiện dưới hình thức nhận tiền gởi của khách hàng, cho khách hàng vay, tài trợ, thuê mua. Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và các tổ chức Tài chính quốc tế, Chính phủ các nước, thể hiện dưới hình thức vay nợ. Các tổ chức Ngân hàng tham gia vào quan hệ tín dụng thể hiện hai tư cách: - Ngan hang đóng vai trò thụ trái và hành vi này được gọi là đi vay, bao gồm: Nhận tién gởi của khách hàng, phát hành trái phiếu để vay vốn trong xã hội, vay vốn của Ngân hàng TW và của các Ngân hàng khác. - Ngân hàng đóng vai trò của trái chủ và hành vi này được gọi là cho vay vì tính chất phức tạp của hoạt động cho vay, vì thế khi nói đến tín dụng người ta thường đề cập đến cho vay và bỏ quên mặt đi Vay.2 Các Hình Thức Tín Dụng Theo tinh thần luật của các tổ chức tín dụng thì có bốn hình thức tín dụng: -Hinh thức cho vay: Cho vay là hình thức cấp tín đụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian phân định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi (Qui chế cho vay kèm theo Quyết định 284 ngày 25/8/2000) theo qui chế này thì có 7 phương thức cho vay bao gồm: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dung, cho vay-theo dự án đầu tư (rung và đài han), cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức tin dụng dự phòng, cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
- Hình thức chiết khấu: Chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua thương phiếu, giấy tờ có giá trị ngắn hạn khác từ người sở hữu trước khi đến thanh toán. - Hình thức cho thuê tài chính: Là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở một hợp đồng cho thuê tài sản giữa tổ chức tín dụng với khách hang thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tục thuê hoặc sở hữu tài sản thuê theo các điều kiện như đã thoả thuận trước trong hợp đồng. - Hình thức bảo lãnh Ngân hàng: Là hình thức cấp tín dụng chữ ký được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên thứ ba.(bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng, khi khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ đã cam kết của họ đối với bên thứ ba.3 Phân Loại Tín Dụng Ngân Hàng 2.1 Căn cứ vào mục đích sử dụng tín đụng: có 2 loại tín dụng.
-Tín dụng cho sắn xuất: +Tín dụng công nghiệp +Tín dụng nông nghiệp _ +Tin dung giao thông vận tải -Tín dụng tiêu dùng: + Đối với cá nhân + Thẻ mua hàng + Trả góp 2.2 Căn cứ vào thời hạn sử dụng: có 3 loại tín dụng: - Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn cho vay đến 12 tháng. - Tín dụng trung hạn: Thời hạn cho vay từ 12 đến 60 tháng.