Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phân tích đòn bẩy trong doanh nghiệp Chương 2: Phân tích thực trạng sử dụng đòn bẩy tại Công ty Cổ phần VIMECO giai đoạn 2020 – 2022 Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đòn bẩy tại Công ty Cổ phần VIMECO CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH ĐÒN BẨY TRONG DOANH NGHIỆP 1. Những khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích đòn bẩy 1. Khái niệm về đòn bẩy Trong lĩnh vực vật lý, “đòn bẩy” là khái niệm dùng để chỉ một loại công cụ với chức năng khuếch đại một lực nhỏ thành một lực lớn hơn theo hướng phục vụ cho con người.
Để đòn bẩy có thể phát huy tác dụng, người ta phải dựa vào một điểm cố định thường gọi là điểm tựa và đây cũng chính là điểm mấu chốt để khuếch đại lực nhằm dịch chuyển các vật thể theo ý muốn của con người. Nguyên lý đòn bẩy đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và đem lại rất nhiều lợi ích cũng như thành công cho con người. Trong kinh doanh, nguyên lý đòn bẩy cũng được áp dụng và được hiểu đơn giản là sự gia tăng nhỏ của sản lượng hoặc doanh thu có thể đạt được một sự gia tăng lớn về lợi nhuận. Thuật ngữ “đòn bẩy” ám chỉ việc sử dụng chi phí cố định để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tác dụng của đòn bẩy được sử dụng để biện minh cho khả năng về chi trả những chi phí cố định khi sử dụng tài sản hoặc vốn để nhấn mạnh khả năng hoàn trả cho những người chủ. Hệ thống đòn bẩy được các doanh nghiệp sử dụng trong quản lý tài chính là đòn bẩy hoạt động, đòn bẩy tài chính và đòn bẩy tổng hợp. Tóm lại, đòn bẩy trong doanh nghiệp là một công cụ để tạo đà phát triển cho doanh nghiệp nếu sử dụng một cách khôn ngoan. Một doanh nghiệp hiểu rõ và sử dụng tốt đòn bẩy sẽ giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp đó khi chỉ cần có sự thay đổi nhỏ từ doanh thu, chi phí hay từ các nguồn tài trợ bằng nợ.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp không ý thức được rủi ro tiềm ẩn và không có những phương án xử lý khủng hoảng mà đòn bẩy mang lại thì doanh nghiệp sẽ phải chịu những ảnh hưởng nặng nề. Khái niệm về doanh thu và chi phí của doanh nghiệp 1. Doanh thu Doanh thu là toàn bộ số tiền doanh nghiệp thu được từ các hoạt động sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ, đầu tư – kinh doanh,… trong một khoảng thời gian nhất định (thường là năm tài chính). Doanh thu của một doanh nghiệp thường bao gồm: − Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ số tiền doanh nghiệp thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính là bán sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Đây là thành phần chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh thu của doanh nghiệp. − Doanh thu hoạt động tài chính: là số tiền doanh nghiệp nhận được từ các hoạt động đầu tư, liên doanh kết kết như tiền lãi cho vay, lợi nhuận và 1 Thư viện ĐH Thăng Long cổ tức nhận được từ việc góp vốn liên doanh cũng như các hoạt động tài chính khác… − Doanh thu khác: bao gồm các khoản khác mà doanh nghiệp nhận được như các khoản nợ vắng chủ, các khoản bồi thường, doanh thu của năm trước bị bỏ sót,… Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu bao gồm: khối lượng sản phẩm tiêu thụ; chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ; kết cấu mặt hàng sản phẩm hàng hóa tiêu; giá cả sản phẩm hàng hóa tiêu thụ; thị trường tiêu thụ và phương thức tiêu thụ, thanh toán tiền hàng. Chi phí Chi phí của một doanh nghiệp là toàn bộ giá trị vật chất và lao động mà doanh nghiệp sử dụng để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian. Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận lớn là chi phí sản xuất kinh doanh (chi phí hoạt động) và chi phí hoạt động tài chính (chi phí vốn).
Chi phí hoạt động của doanh nghiệp: là biểu hiện bằng tiền của các loại vật tư đã tiêu hao, chi phí hao mòn máy móc, thiết bị, tiền lương và các khoản chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất, bán hàng của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định. Nó bao gồm chi phí sản xuất ra các sản phẩm, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Dựa theo cách phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất kinh doanh, người ta chia ra thành chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp. − Chi phí cố định (Định phí): Định phí là những chi phí không thay đổi khi khối lượng sản phẩm sản xuất hoặc tiêu thụ thay đổi trong điều kiện phạm vi giới hạn của quy mô hoạt động, bao gồm các chi phí mà nhà sản xuất phải trả kể cả khi không hoạt động sản xuất.
Vì tổng định phí là không đổi, cho nên khi mức độ hoạt động tăng thì định phí trung bình của một đơn vị hoạt động sẽ giảm, nó thay đổi tỷ lệ nghịch với mức độ biến động của mức hoạt động. Tuy nhiên, định phí chỉ cố định khi khối lượng sản xuất hoặc tiêu thụ chưa vượt quá công suất thiết kế, nếu khối lượng sản xuất hoặc tiêu thụ vượt quá công suất thiết kế, lúc này chi phí đầu tư tăng và vì vậy định phí cũng tăng. Định phí có thể được biểu diễn theo phương trình: y=a Trong đó: y: Tổng định phí a: Giá trị của định phí (hằng số) 2 FC Định phí AFC Định phí bình quân y=a x x Mức độ hoạt động Mức độ hoạt động Đồ thị 1. Định phí Đồ thị 1.
Định phí bình quân (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) − Chi phí biến đổi (Biến phí): Biến phí là các chi phí có sự thay đổi tỷ lệ với các mức độ hoạt động, bao gồm các chi phí sử dụng tùy theo sản lượng trong quá trình hoạt động sản xuất và các thời điểm khác nhau của quá trình sản xuất. Biến phí chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra. Tổng số biến phí sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng (hoặc giảm) của khối lượng sản phẩm sản xuất hoặc tiêu thụ, nhưng biến phí tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi. Tuy nhiên, không phải tất cả các biến phí đều tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động của mức hoạt động như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp,.
Có một số biến phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng, ví dụ như chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị,. Vì vậy, biến phí được chia thành hai loại: chi phí biến đổi tỷ lệ và chi phí biến đổi cấp bậc. Đa số các biến phí thông thường thuộc dạng chi phí biến đổi tỷ lệ, có sự biến đổi một cách tỷ lệ với mức độ hoạt động. Biến phí có thể được biểu diễn theo phương trình: y = bx Trong đó: y: Tổng biến phí b: Giá trị chi phí biến đổi tính theo một đơn vị mức độ hoạt động x: Biến phí thể hiện mức độ hoạt động đạt được 3 Thư viện ĐH Thăng Long VC Biến phí AVC Biến phí bình quân y=b y = bx x x Mức độ hoạt động Mức độ hoạt động Đồ thị 1.
Biến phí Đồ thị 1. Biến phí bình quân VC Chi phí biến đổi cấp bậc x Mức độ hoạt động Đồ thị 1. Chi phí biến đổi cấp bậc (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) − Chi phí hỗn hợp: Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố chi phí cố định và chi phí biến đổi. Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí cố định, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí biến đổi.
Hiểu theo một cách khác, phần cố định trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức độ tối thiểu, còn phần biến đổi là bộ phận chi phí sẽ phát sinh tỷ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm. Một số chi phí hỗn hợp như là chi phí điện thoại, fax, chi phí bảo dưỡng máy móc,. Phương trình biểu diễn chi phí hỗn hợp có dạng: y = ax + b Trong đó: y: Chi phí hỗn hợp a: Tỷ lệ biến đổi theo các mức độ hoạt động của bộ phận chi phí biến đổi trong chi phí hỗn hợp b: Bộ phận chi phí cố định trong chi phí hỗn hợp x: Mức độ hoạt động 4 y Chi phí hỗn hợp y = ax + b x Mức độ hoạt động Đồ thị 1. Chi phí hỗn hợp (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) Chi phí vốn của doanh nghiệp: là chi phí mà nhà đầu tư phải trả cho việc sử dụng, huy động nguồn vốn cụ thể nào đó để tài trợ cho quyết định đầu tư của mình.
Chi phí vốn bao gồm chi phí trả cho việc sử dụng nợ vay, chi phí phát hành cổ phiếu ưu đãi và chi phí trả cho việc đầu tư bằng nguồn vốn chủ sở hữu dưới các hình thức bổ sung bằng các lợi nhuận chưa phân phối hoặc bổ sung bằng các quỹ chuyên dùng của doanh nghiệp. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có thể vay các tổ chức tín dụng hoặc tự phát hành trái phiếu. Đối với nợ vay các tổ chức tín dụng, chi phí nợ vay trước thuế được tính toán dựa trên cơ sở lãi suất vay thường được ấn định trong hợp đồng vay vốn. Đối với nợ vay bằng phát hành trái phiếu, lãi suất huy động nợ chính là lãi suất trái phiếu khi đáo hạn.
Chi phí lãi vay là chi phí hợp lý, được trừ vào lợi nhuận trước khi tính thuế, đây được xem là lá chắn thuế của doanh nghiệp. Điều này khiến cho chi phí sử dụng vốn vay thấp hơn so với các nguồn tài trợ khác. Một Công ty Cổ phần cũng như các doanh nghiệp khác có thể sử dụng một phần lợi nhuận sau thuế để lại để tái đầu tư. Đây là nguồn vốn chủ sở hữu nội sinh của doanh nghiệp.
Chi phí sử dụng lợi nhuận để lại hay là chi phí sử dụng vốn cổ phiếu thường là tỷ lệ cổ tức mà người nắm giữ cổ phiếu thường yêu cầu đối với dự án mà doanh nghiệp đầu tư bằng lợi nhuận để lại.