Đặt vấn đề Khái niệm về chuỗi giá trị (CGT) đã được đề cập từ rất sớm bởi nhiều tác giả trên thế giới và vẫn đang được áp dụng rộng rãi cho tới ngày nay. CGT là một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, sơ chế, chế biến và cuối cùng là bán sản phẩm cho người tiêu dùng (GTZ, 2007). Nghiên cứu chuỗi giá trị có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển bền vững của các sản phẩm, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay. Kaplinsky & Morris (2001) nhấn mạnh: Phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi.
Có nghĩa là phân tích lợi nhuận và lợi nhuận biên trên một sản phẩm trong chuỗi để xác định ai được hưởng lợi nhờ tham gia trong chuỗi và những người tham gia nào có thể được hưởng lợi nhờ được tổ chức và hỗ trợ nhiều hơn. Hiện nay, các nghiên cứu về CGT nông sản trong và ngoài nước được thực hiện theo nhiều cách tiếp cận như phương pháp phân tích CGT toàn cầu Kaplinsky & Morris (2001); phương pháp phân tích CGT của FAO (2003, 2010); phương pháp liên kết CGT ValueLink của GTZ (2007), nâng cao thị trường cho người nghèo (Making Markets Work Better for the Poor -M4P) (M4P, 2007) và khung phân tích SCP (Structure- Conduct-Performance). Trong phân tích CGT nông sản, các nghiên cứu có thể sử dụng một cách tiếp cận hoặc kết hợp nhiều phương pháp tiếp cận nêu trên. Tuy nhiên các nghiên cứu sử dụng kết hợp cách tiếp cận giữa khung phân tích SCP mở rộng với các cách tiếp cận khác trong phân tích CGT thì chưa phổ biến, đặc biệt là trong phân tích CGT nông sản nói chung cũng như cà phê nói riêng.
Bên cạnh đó, khi phân tích CGT các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào phân tích giá cả, giá trị gia tăng (GTGT) và lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi. Trong khi đó, các nghiên cứu chưa đi sâu vào phân tích nguyên nhân của sự tăng giá qua từng tác nhân hay phân tích sức mạnh thị trường để xem xét tác nhân nào có quyền lực thị trường và có quyền quyết định giá trong chuỗi (Kumbhakar và ctv. Ngoài ra, trong phân tích CGT thường tập trung vào phân tích các mối quan hệ nội tại, bên trong của chuỗi mà ít chú trọng đến sự tác động của các yếu tố bên ngoài. Hoặc nếu có, các nghiên cứu cũng chỉ sử dụng công cụ phân tích ma trận SWOT (Strength, Weakness, Opportunity, Threat) hay kết hợp với phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh: áp lực từ nhà cung ứng, khách hàng, sản phẩm thay thế, đối thủ trong ngành và đối thủ tiềm ẩn của Porter (1985) hoặc phân tích mô hình PEST (Political, Economic, Social, Technological) để đưa ra các giải pháp nâng cấp CGT.
Có thể thấy, việc chọn lựa công 1 cụ phân tích sẽ phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, vào sản phẩm của CGT hoặc quan điểm của nhà nghiên cứu. Tuy nhiên rất ít các nghiên cứu chọn lọc, kết hợp các yếu tố của cả 3 mô hình PEST, mô hình 5 áp lực cạnh tranh và phân tích SWOT để tránh trùng lặp và có đầy đủ cơ sở hơn cho việc đề xuất các giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị nông sản. Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Brazil, với diện tích 622.637 ha và sản lượng 1. Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu mang về chưa cao chỉ chiếm khoảng 8,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành nông nghiệp (Bộ NN&PTNT, 2017).
Kim ngạch xuất khẩu thấp là do cà phê của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu ở dạng nguyên liệu thô và chất lượng cà phê nhân chưa cao. Việt Nam chủ yếu trồng cà phê Robusta, trong khi thế giới lại ưa chuộng cà phê Arabica hơn. Thực tế cho thấy, khi tham gia vào CGT cà phê toàn cầu, Việt Nam đang ở khâu đáy của chuỗi, khâu tạo ra GTGT thấp nhất trong toàn chuỗi (Xuan và ctv. Đặc điểm của chuỗi giá trị cà phê là có ít người thu mua với số lượng lớn, giá bán của nông hộ trồng cà phê thấp và hay biến động (Li & Saghaian, 2014), đôi khi nông hộ phải bán cà phê với giá thấp hơn giá thành sản xuất (Mehta & Chavas, 2008).
Hiện nay khu vực canh tác cà phê Arabica lớn nhất của cả nước là khu vực Tây Nguyên, trong đó chủ yếu là Lâm Đồng với diện tích canh tác khoảng 19 ngàn ha chiếm hơn 37,3% của cả nước (Bộ Công Thương, 2020b). Kế tiếp là khu vực Sơn La, Điện Biên và Quảng Trị. Trong đó, không thể không nhắc đến cà phê Arabica của Lâm Đồng với dòng Catimor, Moka và Typica, đặc biệt là dòng cà phê Bourbon, dòng cà phê thượng hạng của thế giới. Một số khu vực của Lâm Đồng nằm ở độ cao trung bình trên 1.200m so với mặt nước biển, khí hậu quanh năm mát mẻ, thổ nhưỡng phù hợp là điều kiện lý tưởng cho các dòng cà phê Arabica phát triển và cho chất lượng tốt nhất.
UBND tỉnh Lâm Đồng (2015a) cũng đã ban hành quyết định Số 2261 về việc quy hoạch phát triển cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2016-2020, trong đó mục tiêu tăng diện tích canh tác cà phê Arabica từ 10% lên 15-20% diện tích cà phê toàn tỉnh vào năm 2020 cùng với nhiều chương trình hỗ trợ về kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và tài chính. Ngoài ra, việc canh tác cà phê Arabica tại Lâm Đồng cũng đã và đang nhận được rất nhiều sự hỗ trợ của các dự án và công ty để hướng tới phát triển cà phê bền vững và có chứng nhận (UTZ, 4C và FairTrade) như dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VNSAT), dự án KOICA của Hàn Quốc và công ty ACOM. Trong khi đó, không phải nông hộ nào cũng có thể tiếp cận được các kênh hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức phi chính phủ. Thêm vào đó, giá cà phê những năm gần đây xuống thấp, dịch bệnh bùng phát nhiều, trong khi năng suất của cà phê lại không cao, chi phí lao động cho việc thu hái và chế biến ngày càng tăng làm cho thu nhập và lợi nhuận của người trồng cà phê xuống rất thấp (VNSAT, 2017).
Bên cạnh đó, sự liên 2 kết giữa các tác nhân trong chuỗi còn lỏng lẻo, nông hộ ít có quyền lực trong việc thương lượng giá cả, cà phê được bán qua quá nhiều khâu trung gian trong khi đó chủ yếu là sản phẩm thô chưa qua chế biến nên GTGT thấp (Linh, 2017; Trúc & Hạnh, 2017). Chính những điều này làm cho một số nông hộ trồng cà phê ở Lâm Đồng không còn mặn mà với cây cà phê và chuyển đổi sang các cây trồng khác như cây ăn trái hoặc các loại rau màu khác. Trong khi đó, số hộ trồng còn trụ lại vẫn chưa thực sự làm giàu được từ nghề trồng cà phê với nhiều lý do khách quan và chủ quan khác. Cuối cùng, hệ quả của những vấn đề trên đã kìm hãm tính hiệu quả của toàn CGT.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra những nút thắt làm cản trở sự phát triển của chuỗi, cũng như những lợi thế chưa được khai thác để giúp tạo ra lợi nhuận của chuỗi cao hơn trở nên rất cần thiết để giúp cho CGT cà phê Arabica ở Lâm Đồng phát triển một cách bền vững. Đây cũng chính là lý do để đề tài: “Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu dưới đây.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung của luận án là: phân tích CGT cà phê Arabica và đề xuất các giải pháp nâng cấp CGT cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng. Để đạt được mục tiêu chung của luận án, đề tài cần tập trung thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau: (1) Phân tích cấu trúc thị trường và phân tích sức mạnh thị trường trong chuỗi giá trị cà phê Arabica tại Lâm Đồng; (2) Phân tích thực hiện thị trường cà phê Arabica tại Lâm Đồng; (3) Phân tích kết quả thị trường cà phê Arabica tại Lâm Đồng; (4) Đề xuất các giải pháp nâng cấp CGT cà phê Arabica tại Lâm Đồng.3 Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu như sau: (1) Cấu trúc thị trường về số lượng, sức mạnh thị trường và các rào cản trong việc gia nhập hoặc rút lui của các tác nhân tham gia trong chuỗi cà phê Arabica ở Lâm Đồng như thế nào? (2) Việc thực hiện thị trường về mặt chức năng thị trường, kênh phân phối chính của CGT và mối liên kết của các tác nhân tham gia trong chuỗi cà phê Arabica ở Lâm Đồng có đặc điểm gì? (3) Kết quả thị trường thể hiện ở các chỉ tiêu: doanh thu, chi phí, GTGT, lợi nhuận, tỷ số lợi nhuận/chi phí và sự phân phối lợi nhuận của các tác nhân tham gia trong chuỗi cà phê Arabica ở Lâm Đồng như thế nào? 3 (4) Để nâng cấp CGT cà phê Arabica ở Lâm Đồng cần có những giải pháp gì về sản phẩm, chi phí sản xuất, kênh phân phối cũng như đầu tư và việc làm? 1.4 Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung phân tích CGT cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng. Do giới hạn về kinh phí và thời gian nên các số liệu liên quan đến các tác nhân trong CGT cà phê Arabica ở Lâm Đồng chỉ được thu thập trong niên vụ cà phê 2019-2020.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2019), Lâm Đồng là tỉnh đứng thứ 2 về canh tác cà phê với diện tích gần 175 ngàn ha, sau Đắk Lắk. Tuy nhiên Lâm Đồng lại là tỉnh dẫn đầu cả nước về năng suất (gần 3 tấn/ha) và chất lượng. Tại Lâm Đồng hiện có 2 loại cà phê đang được canh tác, đó là cà phê Robusta và Arabica. Mặc dù cà phê Arabica chỉ chiếm hơn 10% trong tổng diện tích canh tác cà phê của toàn tỉnh nhưng đây là loại cà phê có chất lượng cao mà không có khu vực nào trong cả nước sánh bằng.
Hơn nữa, trên thế giới, cà phê Arabica là loại cà phê được ưa chuộng nhiều hơn Robusta và có giá trị kinh tế cao hơn. Chính vì vậy, đề tài sẽ chỉ tập trung vào phân tích CGT cà phê Arabica ở Lâm Đồng.5 Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Phân tích cấu trúc thị trường cà phê Arabica ở Lâm Đồng.