CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 1. KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm về đầu tư chứng khoán Đầu tư theo nghĩa chung nhất là quá trình sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm thu lại lợi ích nào đó trong tương lai. Các nguồn lực sử dụng vào quá trình đầu tư được gọi là vốn đầu tư và có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: vốn bằng tiền (nội tệ, ngoại tệ), kim khí quí, đá quí, đất đai, bất động sản, tài nguyên, giá trị thương hiệu, phát minh sáng chế,… Lợi ích của đầu tư cũng được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau tùy theo mục đích của hoạt động đầu tư như: Lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường,… Trong hoạt động kinh tế mục đích chủ yếu và trước hết của hoạt động đầu tư là để thu lợi nhuận [5, trang 15].
Hoạt động đầu tư có thể do một tổ chức hoặc một cá nhân thực hiện dưới nhiều hình thức. Song nếu căn cứ vào mối liên hệ trực tiếp giữa chủ đầu tư và đối tượng đầu tư người ta thường chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp [5, trang 15]. - Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản lý điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, được thực hiện dưới các hình thức như góp vốn kinh doanh hoặc thực hiện các hợp đồng hợp tác kinh doanh. - Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư không trực tiếp tham gia điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, được thực 8 hiện dưới các hình thức như đầu tư chứng khoán hoặc cho vay đầu tư đối với các tổ chức kinh tế.
Như vậy, đầu tư chứng khoán là một trong những hình thức đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư vào các doanh nghiệp, ở đó chủ đầu tư bỏ vốn để mua các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) của doanh nghiệp đang lưu hành trên thị trường chứng khoán nhằm đạt được những lợi ích nhất định [6, trang 16]. Mục đích đầu tư chứng khoán Đầu tư chứng khoán là một hình thức đầu tư khá phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường và thị trường chứng khoán phát triển [5, trang 16]. Mục đích của đầu tư chứng khoán trước hết là nhằm thu được lợi nhuận từ số tiền đã bỏ ra đầu tư. Phần lợi nhuận này được hình thành từ lợi tức chứng khoán mà chủ doanh nghiệp trả cho người đầu tư theo quy định và phần chênh lệch giá chứng khoán khi họ chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán trên thị trường [5, trang 16].
Tiếp đến mục đích của đầu tư chứng khoán là để phân tán rủi ro có thể gặp trong tương lai nhờ đa dạng hóa các hình thức đầu tư, để thực hiện quyền kiểm soát hoặc tham gia quản trị doanh nghiệp với tư cách người nắm cổ phần, vốn góp chi phối [5, trang 16]. Các mục đích có thể khác nhau tùy theo ý định của từng nhà đầu tư, song cũng có thể là tổng hợp các mục tiêu trên trong những tình huống cụ thể [5, trang 16]. TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân Để đi đến quyết định đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư thường phải xem xét, cân nhắc nhiều nhân tố.
Các nhân tố cơ bản thường bao gồm: 9 a. Khả năng sinh lời Mức sinh lời trong đầu tư chứng khoán phản ánh khả năng đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định từ số vốn gốc mà họ bỏ ra ban đầu. Mức sinh lời trong đầu tư chứng khoán có thể đo bằng số tuyệt đối hoặc tương đối. Mức sinh lời tuyệt đối là phần chênh lệch giữa tổng thu nhập từ đầu tư chứng khoán (bao gồm số lợi tức chứng khoán cộng mức lãi hoặc lỗ về vốn) với số tiền đầu tư ban đầu (vốn gốc).
Nếu tính theo số tương đối, mức sinh lời chứng khoán là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi nhuận thu được từ đầu tư chứng khoán so với vốn gốc [7, trang 17]. Mục đích trước hết của đầu tư chứng khoán là nhằm thu được lợi nhuận trong tương lai, vì vậy khả năng sinh lợi của khoản đầu tư chứng khoán là nhân tố cần được xem xét hàng đầu. Tuy nhiên, khả năng sinh lời của chứng khoán lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác như: lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, chính sách kinh tế của Nhà nước, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, chính sách chi trả lợi tức cổ phần của doanh nghiệp… Vì thế để tối đa hóa lợi nhuận, nhà đầu tư cần phải phân tích, đánh giá kỹ các nhân tố có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh lời nêu trên để lựa chọn quyết định đầu tư cho phù hợp [5, trang 313]. Mức độ rủi ro Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được hiểu là khả năng xảy ra những kết quả không mong đợi trong tương lai.
Điều này được thể hiện ở sự sụt giảm, thua lỗ hoặc những biến động bất thường về tỷ suất sinh lợi trong hoạt động đầu tư chứng khoán [7, trang 19]. Để có thể thu được lợi nhuận tối đa trong đầu tư chứng khoán nhà đầu tư còn phải biết cách tối thiểu hóa các rủi ro có thể gặp. Việc đánh giá mức độ rủi ro trong đầu tư chứng khoán không chỉ đối với từng loại chứng khoán riêng lẽ mà còn đối với toàn bộ danh mục đầu tư chứng khoán nhằm hạn chế 10 và phân tán rủi ro. Thông thường, mức độ rủi ro có sự khác biệt nhất định giữa các chứng khoán vốn và chứng khoán nợ, giữa chứng khoán có thời hạn thanh toán khác nhau, giữa chứng khoán có khả năng chuyển đổi hoặc không chuyển đổi, giữa chứng khoán của các doanh nghiệp hoặc ngành kinh doanh khác nhau… Việt đánh giá mức độ rủi ro đầu tư chứng khoán cũng đòi hỏi năng lực, kỹ năng phân tích đánh giá rủi ro nhất định của các nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường [5, trang 313, 314].
Khả năng thanh khoản Tính thanh khoản (hay còn gọi là tính lỏng) của chứng khoán là khả năng dễ dàng chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt. Thông thường khi có số tiền mặt nhàn rỗi nhà đầu tư thường đầu tư chứng khoán để thu lợi nhuận, song khi cần tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu cá nhân hoặc chuyển hướng đầu tư họ lại nuốn chuyển nhượng chứng khoán đang sở hữu để thu tiền về. Nếu các chứng khoán mà họ sở hữu có khả năng thanh khoản cao, việc sở hữu chứng khoán cũng tiện ích không khác gì việc nắm giữ tiền mặt thì sẽ khuyến khích họ đầu tư chứng khoán và ngược lại. Do đó tính thanh khoản của chứng khoán cũng là một yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư cần xem xét để đi đến quyết định đầu tư [5, trang 314].
Mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết Đôi khi mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp cũng là một nhân tố được xét đến khi lựa chọn quyết định đầu tư chứng khoán. Quyền hạn và lợi ích của nhà đầu tư chứng khoán thường được tăng thêm theo mức độ nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp. Vì vậy, khi đầu tư chứng khoán họ cũng cần cân nhắc qui mô đầu tư sao cho có thể đạt được mục đích kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp, hỗ trợ cho việc thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình [5, trang 314]. Phân tích tài chính Việc xem xét từ nhiều nguồn thông tin để đi đến quyết định đầu tư là điều cần thiết.
Và báo cáo tài chính cần phải được xem xét tỉ mỉ để rút ra thông tin cần thiết. Các báo cáo tài chính thường được xem là nơi để tìm kiếm thông tin về công ty và còn đóng một vai trò quan trọng khác nữa trong phân tích cơ bản để đi đến quyết định đầu tư [14, trang 123, 126]. Phân tích báo cáo tài chính với các dạng khác nhau như: Phân tích tài chính so sánh, phân tích tài chính theo tỷ trọng, phân tích tỷ số, phân tích dòng tiền và định giá [14, trang 30]. Như vậy, có 5 nhân tố được đề cập ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân, đó là: Khả năng sinh lời, mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản và mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết, phân tích tài chính.
Khả năng kiểm soát, chi Phân tích tài chính Khả năng sinh lời phối hoạt động Quyết định đầu tư Khả năng thanh khoản Mức độ rủi ro của NĐT cá nhân Sơ đồ 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân 1. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Chứng khoán Để đi quyết định đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư cá nhân phải xem xét đến nhiều nhân tố. Do đó, việc xác định mức độ tác động của từng nhân tố đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân là điều cần thiết. Lý thuyết định giá Arbitrage (hay còn gọi là mô hình APT) là một trong 12 những mô hình phản ánh mối quan hệ giữa tỷ suất lợi tức kỳ vọng của chứng khoán i với phần bù rủi ro của nhân tố k, vì vậy, khi sử dụng mô hình APT, ta sẽ phản ánh được nhiều nhân tố tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân.
Mô hình APT Đã từ rất lâu, khi nhắc đến quyết định đầu tư, không chỉ đầu tư trên lĩnh vực chứng khoán mà đầu tư ở bất kỳ lĩnh vực gì, các nhà đầu tư đều xem xét đến 2 yếu tố có tầm ảnh hưởng lớn đó là: Rủi ro và tỷ suất sinh lợi. Rủi ro được xem như là các khoản thiệt hại về tài chính. Những chứng khoán nào có khả năng xuất hiện những khoản lỗ lớn được xem như là có rủi ro hơn những chứng khoán có khả năng xuất hiện những khoản lỗ thấp hơn. Vì vậy, rủi ro được mô tả bằng sự biến đổi của các tỷ suất lợi tức của chứng khoán đó.