CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Tổng quan về động lực và động lực làm việc của người lao động 1. Khái niệm về động lực và động lực làm việc của người lao động Động lực Động lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi cá nhân, tổ chức và toàn xã hội. Bất kì hoạt động nào của con người nếu xuất phát từ động lực sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, động lực với nghĩa thứ nhất là năng lượng làm cho máy móc chuyển động, nghĩa còn lại là cái thúc đẩy làm cho biến đổi, phát triển (Nguyễn Như Ý, 1999). Dù được hiểu theo nghĩ nào thì động lực cũng là cái bên trong, là tiền đề cho những hoạt động khác. Trong nghiên cứu này, tác giả muốn đề cập và đi sâu phân tích nghĩa thứ hai của động lực. Trên thế giới có nhiều định nghĩa về động lực.
Theo quan điểm của một nhà nghiên cứu người Anh, động lực (motivation) thể hiện quá trình tâm lí tạo ra sự thức tỉnh, định hướng và kiên trì thực hiện các hoạt động tự nguyện nhằm đạt được LVTS mục tiêu (Mitchell, Quản 1982). Một quantrị kinh điểm doanh khác cho rằng động lực là sự sẵn sàng để phát huy nỗ lực đạt mục tiêu cao nhất của tổ chức, với điều kiện là tổ chức phải có khả năng đáp ứng một số nhu cầu cá nhân (Robbin, 1993). Hay động lực còn có thể được định nghĩa là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn (Higgins, 1994). Tại Việt Nam, có một quan điểm tiêu biểu về động lực như sau: “Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể.
Nói cách khác, động lực bao gồm tất cả các lý do khiến con người hành động” (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2012). Như vậy, động lực có thể hiểu là sự thúc đẩy từ bên trong khiến con người hoạt động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng thích nghi, sáng tạo cao để hoàn thành công việc và nhiệm vụ của bản thân. Động lực làm việc Động lực làm việc chính là một trường hợp cụ thể của động lực. Có thể nói, động lực làm việc là trạng thái hình thành khi người lao động kì vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc 13 (Vroom, 1964).
Kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân đã được mô hình hóa như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện (Marie & Lauler, 1973) Như vậy, động lực làm việc có tác động rất lớn đến kết quả thực hiện công việc. Khả năng phụ thuộc vào các yếu tố thuộc về bản thân người lao động (năng lực bẩm sinh…) và các yếu tố bên ngoài (giáo dục, kinh nghiệm, kĩ năng được huấn luyện…). Trong khi đó, động lực chủ yếu phụ thuộc vào tâm lí người lao động, đó là sự khao khát và tự nguyện làm việc, cống hiến cho tổ chức, cho xã hội. Theo quan điểm của hai nhà nghiên cứu người Việt Nam, động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2012).
Một định nghĩa khác lại chỉ ra động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng LVTS suất, hiệu quả cao. Quản Biểu hiện trịlựckinh của động doanh là sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như người lao động. (Bùi Anh Tuấn & Phạm Thúy Hương, 2013) Tóm lại, động lực làm việc có thể hiểu là một yếu tố tâm lí góp phần vào sự chủ động, hăng say trong thái độ đối với công việc của người lao động. Động lực làm việc không giống nhau ở tất cả người lao động, mà nó khác biệt theo từng cá nhân, từng công việc, từng môi trường cụ thể (Susan M.
Tuy nhiên, kết quả chung mà nó mang lại chính là năng suất lao động cao và hiệu quả công việc tốt. Động lực làm việc là yếu tố bên trong nhưng lại được biểu hiện ra bên ngoài thông qua thái độ, hành vi của người lao động. Về cơ bản, sự biểu hiện đó bao gồm mức độ tham gia vào công việc của người lao động và mối quan tâm đối với nghề nghiệp của họ. Thông qua nắm bắt được các biểu hiện động lực làm việc của người lao động, các tổ chức sẽ có các chính sách nhân sự, biện pháp tạo động lực làm việc phù hợp cho nhân viên.
14 Tạo động lực làm việc Nhân tố con người luôn được đánh giá cao về tầm quan trọng đối với sự thành công của tổ chức. Trong hoạt động kinh doanh, bên cạnh cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến thì một đội ngũ nhân viên hùng hậu về số lượng và giỏi về chuyên môn cũng mang tính quyết định đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ngoài vấn đề số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, động lực làm việc của nhân viên cũng là một yếu tố đáng lưu tâm. Do đó, làm thế nào để tạo động lực làm việc cho nhân viên là một câu hỏi lớn cho các nhà quản trị.
Có nhiều quan điểm về tạo động lực làm việc, nhưng tựu chung lại, tạo động lực làm việc chính là dẫn dắt nhân viên đạt được những mục tiêu đã đề ra với nỗ lực lớn nhất. Hay nói cách khác, tạo động lực làm việc được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lí tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc (Bùi Anh Tuấn & Phạm Thúy Hương, 2013). Đối với người lao động, quá trình lao động luôn có xu hướng bị nhàm chán và bị tác động bởi ngoại cảnh. Khi tinh thần và thái độ tích cực trong công việc giảm sút, LVTS việc họ tìm cách Quản rời khỏi trịđiềukinh tổ chức là tất yếu.doanh Do đó, các tổ chức cần sử dụng đúng đắn các biện pháp tạo động lực làm việc để người lao động luôn hăng hái và hứng khởi với công việc của mình cùng với một tinh thần trách nhiệm cao.
Trên thực tế, có những nhân viên vẫn hoàn thành công việc dù không có động lực làm việc, nhưng ở góc độ của một nhà quản trị thì luôn mong muốn nhân viên đó sẽ hoàn thành công việc với thành tích tốt nhất. Và công tác tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ giúp các nhà quản trị thực hiện được mục đích đó. Suy cho cùng, động lực làm việc xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của bản thân người lao động. Chính vì vậy, tạo động lực là việc xác định nhu cầu của người lao động và sử dụng tổng hợp các biện pháp, cách thức nhằm thỏa mãn nhu cầu đó, từ đó khơi dậy niềm khát khao, tinh thần tự nguyện hăng say làm việc của người lao động để đạt được những thành tích tốt nhất, góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả và sự thành công của tổ chức.
Sự cần thiết phải tạo động lực làm việc cho người lao động trong tổ chức Động lực làm việc có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi cá nhân, tổ chức và toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xây dựng một hệ thống chính sách, biện pháp tạo động lực thích hợp cho người lao động để thông qua quá trình làm việc chủ động, sáng tạo, hăng say của họ mà mang lại những kết quả tốt đẹp cho doanh nghiệp và đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Đối với người lao động Xác định chính xác nhu cầu và thỏa mãn tối đa nhu cầu của người lao động sẽ mang lại cho họ sự hứng thú, say mê trong công việc, kết quả là năng suất lao động cá nhân được nâng cao rõ rệt (Trần Xuân Cầu, 2008). Công việc phải mang lại niềm vui, mang lại thu nhập, mang lại cơ hội thì người lao động mới có động lực và nguồn động viên để làm việc và phấn đấu hết mình vì mục tiêu chung.
Động lực đó có thể là về tài chính, cũng có thể là phi tài chính nhưng nói chung đều có tác động tích cực vào tâm lí người lao động (Kelli Burton, 2012). LVTS Trải qua quá Quản trình lao động đầytrị kinh nhiệt huyết, doanh hăng say và sáng tạo do được tạo động lực đúng và đủ, người lao động sẽ hoàn thiện hơn kĩ năng nghề nghiệp của bản thân, biết tự rút kinh nghiệm trước những sai lầm của mình, từ đó mang lại hiệu quả cao hơn trong công việc. Hơn nữa, khi cảm thấy công việc đang làm mang lại cho mình nhiều đãi ngộ, người lao động trở nên có trách nhiệm đối với công việc mà mình đảm nhận. Khi được tạo động lực bằng những phần thưởng xứng đáng với sức lao động của mình, nhân viên sẽ có chi phí và thời gian để nghỉ ngơi, thư giãn, tái tạo sức lao động (Phạm Thị Thu Hà, 2015).
Điều này cũng làm họ có được tinh thần thoải mái khi trở lại với công việc và đòi hỏi họ phải cố gắng làm việc hơn nữa nếu muốn tiếp tục nhận được phần thưởng như vậy. Đối với tổ chức Việc tạo động lực đúng mức khiến cho người lao động hứng thú với công việc và hăng say làm việc. Họ thông thạo công việc và tìm cách cải tiến quy trình làm việc của mình, nhờ vậy rút ngắn được thời gian, tiết kiệm được nguồn lực, từ đó 16 làm tăng năng suất lao động. Nguồn nhân lực trong tổ chức sẽ được sử dụng hiệu quả nhất và có thể khai thác tối ưu các khả năng của người lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh (Trần Xuân Cầu, 2008).
Bên cạnh đó, sự hợp tác làm việc lâu dài của đội ngũ lao động cũng góp phần ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một chính sách tạo động lực tốt sẽ tạo được tiếng vang cho công ty trong việc thu hút và giữ chân nhân tài. Tìm được người giỏi đã khó, khiến cho họ gắn bó với tổ chức còn khó hơn. Nghiên cứu cho thấy rằng mười nhân viên giỏi rời đi tương đương với việc tổ chức đó mất đi một triệu đô la (Sunil Ramlall, 2004).