Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu tại nước ngoài Atube và cộng sự (2021) đã thực hiện nghiên cứu xác định các chiến lược thích ứng của những nông dân nhỏ đối với những ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu tại khu vực phía Bắc của Uganda, và các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp thích ứng cụ thể. Phương pháp nghiên cứu khảo sát được sử dụng đề thu thập thông tin từ 395 nông hộ từ hai quận bằng bảng câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nông dân được xác định qua mô hình hồi quy Logit. Kết quả cho thấy nông dân đang áp dụng nhiều biện pháp thích ứng khác nhau như đa dạng hóa các loại cây, trồng các giống cây chống chịu được hạn, quãng canh. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các giống cây chịu đựng được khô hạn của nông hộ gồm tình trạng hôn nhân của chủ hộ, tiếp cận tín dụng và khuyến nông, thu nhập của hộ. Nói chung, việc áp dụng những biện pháp kỹ thuật khác nhau bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khác nhau Isaac và cộng sự (2020) thực hiện nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn giải pháp kỹ thuật thích ứng của nông dân tại 3 vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của Ghana.
Đề đạt được mục tiêu đề ra, các tác giả đã áp dụng mô hình hồi quy logit đa thức để xem xét ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến quyết định áp dụng các biện pháp thích ứng khác nhau tại mỗi vùng sinh thái. Các biện pháp thích ứng bao gồm sử dụng giống mới, thay đối lịch trồng, đa dạng hóa cây trồng, biện pháp tưới cải tiến. Các yếu tố ảnh hưởng sự lựa chọn giải pháp kỹ thuật thích ứng bao gồm 3 nhóm đặc điểm nông hộ, các yếu tố khí hau, và biến có thời tiết cực đoan. Yousof Azadi và cộng sự (2019) thực hiện nghiên cứu xác định các yếu té ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp thích ứng của nông dân trồng lúa mì tại quận Kermanshah, phía Tây Iran.
Qui mô khảo sát là 350 hộ gia đình được lựa chon theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng. Đại diện các hộ gia đình được phỏng van theo bảng phỏng vấn bán cấu trúc. Công cụ đề phân tích số liệu là phương pháp phân tích thành phần chính PCA. Kết quả phân tích theo kỹ thuật này cho thấy có 3 nhóm thành phần (nhân tố) anh hưởng chính đến quyết định thích ứng là các cách thức quan lý đồng ruộng, quản lý tài chính và các chương trình của chính phủ.
Ảnh hưởng tương đối của các biến quan sát về thích ứng trong mỗi thành phần được đánh giá bằng cách sử dụng phương pháp hồi qui OLS. Kết qua cho thay 3 thành phan theo thứ tự giải thích được 50%, 20%, và 40% sự thay đổi trong việc áp dụng các biện pháp thích ứng. Zelda và cộng sự (2017) nghiên cứu nhận thức của nông dân, những trở ngại trong sản xuất và xác định những biện pháp thích ứng với biến đối khí hậu tại 3 tinh ở Nam phi. Số liệu được thu thập từ 150 nông dân theo bản phỏng vấn bán cấu trúc vào tháng 6-8 năm 2015.
Các kỹ thuật phân tích bao gồm phân tích ANOVA một chiều, số trung bình, phân phối tần số, kỹ thuật xếp hang Garrett dé phân tích và so sánh giữa nhóm nông dân trồng bắp cải và cà chua. Kết quả nghiên cứu cho thấy nông dân nhận thức rất rõ về sự thay đổi của yếu tố khí hậu qua thời gian là nhiệt độ và lượng mưa. Nông dân đã và đang áp dụng nhiều biện pháp thích ứng khác nhau, trong đó sử dụng giống chịu hạn và hệ thống thủy lợi là hai biện pháp phô biến nhất. Thiếu hiểu biết về các sản phẩm bảo hiểm cũng như khả năng chỉ trả cho bảo hiểm là những lý do chính làm hạn chế sự tiếp cận sử dụng dịch vụ bảo hiểm của nông dân.
Baley và cộng sự (2017) nghiên cứu sự thích ứng của các nông dân nhỏ va những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thích ứng tại thung lũng Central Rift của Ethiopia. Mô hình hồi quy logit đa thức được tác giả sử dụng để phân tích số liệu khảo sát 200 nông hộ. Kết quả cho thấy 90% nông dân đã có nhận thức rõ về sự biến động của khí hậu, và 85% trong số này đã áp dụng các biện pháp thích ứng khác nhau như đa dang hóa cây trồng, điều chỉnh lịch trồng, biện pháp gìn giữ nước và độ âm đất, kết hợp trồng trọt và chăn nuôi. Mô hình kinh tế lượng xác định được giới tính, trình độ học vấn, qui mô hộ gia đình, qui mô đất đai, sở hữu đàn gia súc, độ tuôi, kinh nghiệm sản xuất, tiếp cận thị trường, tiếp cận thông tin thời tiết, tiếp cận với cán bộ khuyến nông là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp thích ứng.
Khorshed Alam (2015) nghiên cứu sự thích ứng của nông dân đối với tình trạng khan hiếm nước tại vùng khô hạn thuộc quận Rajshahi, ở Bangladesh. Sử dụng số liệu từ 150 nông hộ, tác giả xem xét những nông dân trồng lúa đã có biện pháp thích ứng nào dé đối phó với tình trạng khan hiếm nước. Kết quả chỉ ra rằng những nông dân có nhiều năm kinh nghiệm sản xuất, học vấn cao, sở hữu nhiều đất đai, tiếp cận hệ thống điện và cơ quan hành chánh dễ dàng, và nhận thức tốt về ảnh hưởng của khí hậu thời tiết thì khả năng áp dụng các chiến lược thích ứng cao hơn. Các lựa chọn biện pháp thích ứng với khan hiếm nước được so sánh với cách thức tiếp cận truyền thống nước cấp từ hệ thống thủy lợi.
Mô hình hồi quy logit đa thức được sử dụng để ước lượng xác suất chọn lựa áp dụng 1 trong 4 cách thức đối phó với khan hiếm nước. Mohammed và cộng sự (2014) sử dung mô hình logit dé nghiên cứu thích ứng của nông dân đối với sự xuống cấp của môi trường và ảnh hưởng của khí hậu tại quận Sathkhira, vùng bờ biển của Bangladesh. Các nội dung phân tích xem xét trong nghiên cứu bao gồm bốn khía cạnh a) mức độ áp dụng những biện pháp cá nhân do nông dân tự báo cáo; b) xếp hạng những chiến lược thích ứng tiềm năng dựa trên đánh giá cảm nhận về tầm quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp; c) xác định những yếu tố kinh tế xã hội có liên quan đến áp dụng biện pháp thích ứng ; và d) xác định những rào cản dé áp dụng biện pháp thích ứng. Phương pháp hồi quy theo mô hình logit được chọn do đặc điểm dễ hiểu của kết quả ước lượng.
Số liệu phân tích thu thập từ 100 nông dân trong vùng. Kết quả cho thấy hầu hết các nông dân đều có hành động đề thích ứng. Tổng số có 14 biện pháp được áp dụng, trong đó thủy lợi được xếp hàng đầu và bảo hiểm cây trồng xếp hạng thấp nhất. Kết quả mô hình xác định được 8 yếu tố ảnh hưởng có nghĩa về thống kê đến quyết định áp dụng biện pháp thích ứng của nông dân là độ tuổi, thu nhập hộ, trình độ học van, qui mô hộ gia đình, diện tích đất nông nghiệp, cải thiện hoạt động của hợp tác xã.
Thiếu nước, thiếu đất canh tác, và khó dự báo diễn biến của thời tiết là 3 yêu tố được xếp hàng đầu trong các yếu tố hạn chế khả năng thích ứng của nông hộ. Parmeshwar Udmale và cộng sự (2014) dựa trên bối cảnh hoạt động sản xuất ngành nông nghiệp tại bang Maharashtra của Ấn Độ, là nguồn sinh kế chính cho khoảng 64% dân số, đang đối phó với những thách thức của khô hạn đã thực hiện nghiên cứu về nhận thức của cộng đồng cư dân nông thôn về những tác động của khô hạn đến những hoạt động kinh tế xã hội, môi trường; những biện pháp thích ứng của hộ và đánh giá về những biện pháp giảm thiểu thiệt hại của chính phủ. Nghiên cứu đã sử dụng số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp thu thập từ 223 nông hộ. Kết quả cho thấy sự giảm sút về năng suất ngũ cốc, cây ăn quả, năng suất vật nuôi, và mat việc làm là những tác động kinh tế trước mắt của vấn đề khô hạn.
Những tác động về xã hội gồm di cư ra khỏi vùng, tác động đến sức khỏe và việc học hành của trẻ em, tinh thần vô vọng, mâu thuẫn trong sử dụng nước, và suy dinh dưỡng. Đối mặt với tình trang bị ảnh hưởng xâu của khô hạn trên nhiều khía cạnh, nhưng người nông dân đã chưa có những nhận thức tốt về áp dụng các biện pháp dé đối phó, thích ứng. Các biện pháp giảm thiểu thiệt hại của chính phủ chưa đạt được sự hải lòng cao của cộng đồng cư dân nông thôn. Deressa và cộng sự (2011) nghiên cứu sự thích ứng với BDKH của 1.000 nông dân sản xuất cả trồng trọt và chăn nuôi tại lưu vực sông Nile của Ethiopia dựa theo số liệu điều tra chéo năm 2004/2005.
Tác giả sử dụng mô hình lựa chọn Heckman dé phân tích. Tuy nhiên, cũng cùng bộ số liệu, trước đó năm 2009 các tác giả đã sử dung mô hình multinomial logit. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng mạnh đến sự thích ứng của nông dân là trình độ học vấn, qui mô hộ gia đình, sản xuất đơn hay đa ngành, tiếp cận khuyến nông và tin dụng, và yếu tố nhiệt độ không khí. Các nghiên cứu trong nước Trương Quang Dũng và cộng sự (2022) thực hiện nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn áp dụng giống lúa chịu hạn và tác động đến thu nhập của hộ nông dân.
Số liệu được thu thập từ khảo sát 120 hộ trồng lúa ở hai địa bản nghiên cứu thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và An Giang. Các tác giả đã sử dụng mô hình h6i quy Probit và hồi quy tuyến tính OLS dé ước lượng các nhân tố tác động đến sự lựa chon su dụng giống lúa của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố có ảnh hưởng đến xác suất sử dụng giống lúa chịu hạn gồm tuổi chủ hộ, số thành viên trong gia đình, thu nhập hàng tháng của hộ, số vụ sản xuất lúa trong một năm, và tổng diện tích đất. Bên cạnh đó, kết quả cũng chỉ ra rằng nhóm hộ áp dụng giống lúa chịu hạn có thu nhập và giá bán cao hơn so với nhóm hộ không áp dụng, thông qua kết quả kiểm định t-test.