ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Chè là cây công nghiệp dài ngày, được trồng khá phổ biến trên thế giới, tiêu biểu là một số quốc gia thuộc khu vực Châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam…Nước chè là một thức uống tốt, rẻ tiền hơn cà phê, ca cao, có tác dụng giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích sự hoạt động của hệ thần kinh hệ tiêu hóa và chữa một số bệnh đường ruột. Chính vì những đặc tính ưu việt trên chè đã trở thành một loại đồ uống phổ thông với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng trên toàn thế giới. Đây chính là lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất chè ngày càng phát triển.
Ở nước ta, cây chè cho sản phẩm từ 6 - 7 lứa/năm, mang lại thu nhập khá ổn định cho người sản xuất, nó thích ứng với các vùng miền núi và Trung du phía Bắc, cây chè giúp chống xói mòn, phủ xanh đất trống đồi trọc, thu hút lao động nhàn rỗi. Vì vậy, việc phát triển cây chè ở nhiều vùng sẽ góp phần tạo ra của cải vật chất, tạo vùng chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Nhận thấy được tầm quan trọng của cây chè Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách xác định vị trí vững chắc của cây chè trong nền nông nghiệp nước ta, bao gồm cả nhu cầu dự trữ và xuất khẩu. Do vậy chè được coi là một sản phẩm có giá trị cao, góp phần không nhỏ vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho nghười dân.
Chè được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Thái Nguyên, Sơn La, Phú Thọ, Hà Giang, Yên Bái…Ở Thái Nguyên cây chè được chú trọng phát triển mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người dân nơi đây. Thị trấn Hùng Sơn là một xã thuooch huyện Đại Từ Tỉnh Thái Nguyên, được thiên nhiên ưu đãi một hệ thống đất đai và điều kiện khí hậu thời tiết khá thích hợp cho việc phát triển cây chè. So với các xã trong huyện, n 2 thị trấn Hùng Sơn có diện tích chè khá lớn được phân bố chủ yếu ở các thôn phía đông, với vùng trọng điểm là các xóm: Vân Long, An Long, Hàm Rồng, Liên Giới. Ở thị trấn Hùng Sơn do có các điều kiện tự nhiên thích hợp với cây chè nên trong thập kỷ qua cây chè đã được chú trọng phát triển.
Tuy nhiên kéo theo sự phát triển thì cũng kèm theo những nguy cơ gây hại đến cuộc sống người dân và môi trường sống cộng đồng, cũng như ảnh hưởng đến nghành nông nghiệp và các nghành công nghiệp khác chính là sự biến đổi khí hậu ngày nay đang ngày càng tăng. Nhất là đối với cây chè sự biến đổi khí hậu có ảnh hưởng xấu đến sản xuất, chất lượng, năng suất …Gây ảnh hưởng đến cuộc sống người dân và các nông hộ trồng chè. Xuất phát từ những lý do trên em đã chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương về sinh kế nông hộ trồng chè do biến đổi khí hậu trên địa bàn thị trấn Hùng Sơn Huyện Đại Từ Tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát Đánh giá được đầy đủ chính xác tình hình sản xuất chè trên địa bàn thị trấn Hùng Sơn và hiểu biết của người dân trong xã về BĐKH, mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất chè đồng thời đề xuất một số giải pháp tăng cường hiểu biết về BĐKH cho người dân, góp phần phát triển sản xuất chè trong điều kiện BĐKH. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được thực trạng sản xuất chè ở thị trấn Hùng Sơn. - Đánh giá được hiểu biết của người dân trồng chè về biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất chè cũng như những giải pháp ứng phó BĐKH trong sản xuất chè của người dân hiện nay. - Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiểu biết về BĐKH cho người dân tại thị trấn Hùng Sơn.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về phát triển sản xuất chè tại địa phương. - Xác định cơ sở khoa học tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển sản xuất chè. - Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học.
Ý nghĩa thực tiễn - Nắm bắt được tình hình sản xuất chè và vị trí của cây chè trong sự phát triển kinh tế địa phương. - Hiểu biết hơn về những ảnh hưởng tác động của biến đổi khí hậu đến - Có những đề xuất giải pháp hiệu quả khắc phục những tác động của biến đổi khí hậu đến năng suất, chất lượng sản xuất chè để có những hình thức sản xuất mới phù hợp thích ứng với môi trường. Ý nghĩa đối với sinh viên - Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, giúp sinh viên củng cố thêm những kiến thức kỹ năng đã học, đồng thời có cơ hội vận dụng chúng vào thực tế. n 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Khái niệm, nguyên nhân, biểu hiện, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu 2. Một số khái niệm của tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu Có nhiều khái niệm về tính dễ bị tổn thương (TDBTT) và việc sử dụng thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương. TDBTT thường đi kèm với các nguy cơ tự nhiên như lũ lụt, hạn hán và nguy cơ xã hội như nghèo đói, vv…Gần đây, khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong bối cảnh BĐKH để biểu thị mức độ thiệt hại mà một khu vực dự kiến sẽ bị ảnh hưởng do các tác động khác nhau của BĐKH.
Có nhiều nghiên cứu về TDBTT trên thế giới và khái niệm về TDBTT cũng khác nhau tùy theo quan điểm của những nhà nghiên cứu. Cụ thể, một số định nghĩa về TDBTT điển hình như sau: Chamber (1983) định nghĩa TDBTT có 2 mặt. Một mặt là rủi ro bên ngoài, các cú sốc mà một cá nhân hoặc hộ gia đình phải chịu từ các tác động của BĐKH và một mặt là nội bộ bên trong đó là sự không có khả năng bảo vệ, có nghĩa là thiếu phương tiện để đối phó mà không bị thiệt hại. O'brien và Mileti (1992) đã thử nghiệm TDBTT đối với BĐKH và khẳng định rằng bên cạnh sự ổn định và giàu có về kinh tế, khả năng chống chịu của dân cư với các cú sốc về môi trường, cấu trúc và tình trạng sức khỏe của người dân có thể đóng một vai tr quan trọng quyết định đến TDBTT.
Tuổi tác là một vấn đề quan trọng vì người già và trẻ em vốn là những đối tượng dễ bị tổn thương do những rủi ro môi trường và nguy cơ phơi lộ. Dân số trong độ tuổi lao động và có sức khỏe tốt có nhiều khả năng đối phó và do đó ít bị tổn thương hơn khi đối mặt với nguy cơ phơi lộ. Theo Adger (1999), TDBTT là mức độ mà một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội dễ bị thiệt hại do BĐKH. Nó được coi là một hàm của hai thành phần: n 5 ảnh hưởng có thể có của một hiện tượng đến con người, được gọi là năng lực hoặc TDBTT về mặt xã hội và rủi ro về một hiện tượng như vậy có thể xảy ra, thường được gọi là sự phơi lộ (exposure).
Trong các báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), khái niệm này vẫn được sử dụng khác nhau qua các thời kỳ. Trên thực tế, IPCC đã đưa ra các khái niệm khác nhau về TDBTT đối với BĐKH qua các năm. Năm 1992, TDBTT được định nghĩa như mức độ mà một hệ thống không có khả năng đối phó với những hậu quả của BĐKH và nước biển dâng. Năm 1996, báo cáo lần thứ 2 (SAR) của IPCC đã định nghĩa TDBTT là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm của hệ thống mà c n phụ thuộc vào năng lực thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới.
Định nghĩa này bao gồm sự phơi lộ, mức độ nhạy cảm, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của BĐKH. Năm 2001, báo cáo lần thứ 3 (TAR) của IPCC đã định nghĩa tính dễ bị tổn thương là mức độ một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội bị nhạy cảm với các thiệt hại do BĐKH gây ra. TDBTT là một hàm của mức độ nhạy cảm của một hệ thống đối với những thay đổi của khí hậu (mức độ mà một hệ thống sẽ ứng phó với một sự thay đổi của khí hậu, bao gồm những tác động có lợi và có hại), năng lực thích ứng (mức độ mà sự điều chỉnh trong thực tiễn, quá trình thực hiện, hoặc cơ cấu có thể giảm nhẹ hoặc bù lại được những thiệt hại tiềm ẩn hoặc tận dụng được những cơ hội tạo ra từ sự thay đổi khí hậu đó), và mức độ phơi lộ của hệ thống với các nguy cơ khí hậu. Năm 2007, báo cáo lần thứ 4 (AR4) của IPCC đã định nghĩa tính dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ một hệ thống bị nhạy cảm hoặc không thể chống chịu trước các tác động có hại của BĐKH, bao gồm dao động khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan.
TDBTT là một hàm của các đặc tính, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao dộng n 6 khí hậu mà hệ thống đó bị phơi lộ, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của hệ thống đó. Theo định nghĩa mới nhất này, khi các biện pháp thích ứng được tăng cường thì TDBTT theo đó sẽ giảm đi. Tổng quan các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới: Trên thế giới, TDBTT đã được nghiên cứu ở rất nhiều quy mô khác nhau như đối với một vùng lãnh thổ/khu vực (đới ven biển, hệ thống đảo.), một hệ sinh thái, một hệ thống tự nhiên hay một cộng đồng người vv.
trên nhiều lĩnh vực như kinh tế - xã hội, môi trường, tự nhiên, thiên tai và đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực BĐKH.