MỞ ĐẦU Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và công cuộc đổi mới đất nước trong những năm vừa qua đã đem lại những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội (KTXH), nâng cao đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Tuy nhiên, những biến đổi nhiều mặt trong đời sống xã hội và tăng trưởng kinh tế cũng nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường thiên nhiên và môi trường sống của cộng đồng. Sự suy thoái về môi trường là vấn đề đã được cảnh báo và đã giành được sự quan tâm của toàn xã hội, song vẫn là điều đáng lo ngại trong quá trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế ở nước ta. Với sự mở rộng về quy mô và tăng mật độ các khu công nghiệp, đồng thời với việc áp dụng nhiều công nghệ mới và nhiều hóa chất trong sản xuất nông nghiệp đang phát sinh nhiều thách thức mới trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Nhu cầu phát triển kinh tế nhanh trên cơ sở đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là điều cần thiết và cấp bách đối với đất nước đang trên đà phát triển, song những tác động tiêu cực của nó đến với môi trường là rất lớn và nếu không xử lý tốt thì đó cũng là tác nhân gây ra cản trở sự phát triển. Cùng với tốc độ CNH, HĐH, quá trình đô thị hóa cũng diễn ra với nhịp độ cao dẫn tới những hậu quả tiêu cực đối với môi trường sống của người dân. Dân số thành thị năm 2010 là 26515,9 nghìn người, chiếm 30,5% so dân số nông thôn là 60431,5 chiếm 69,5%, song phần lớn dân cư thành thị chỉ tập trung ở một số vùng trọng điểm. Tình hình này tạo ra một áp lực lớn đối với vấn đề quản lý đô thị, như vấn đề giao thông, rác thải, cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước và các dịch vụ công cộng khác.
Đây thật sự là một sức ép lớn vì tình trạng cơ sở hạ tầng và quản lý đô thị hiện rất yếu kém. Thêm vào đó, luồng di dân từ nông thôn ra thành thị sẽ tạo thêm gánh nặng lớn hơn đối với vấn đề quản lý đô thị. Dân số thành thị tăng, tất yếu dẫn đến những thách thức lớn về môi trường. Đây là bài toán chung khó giải đối với mọi quốc gia trên thế giới, nhất là các nước kém phát triển, trong đó có Việt Nam.
Những năm gần đây vấn đề môi trường đô thị ở Việt Nam đã trở thành vấn đề nghiêm trọng và đáng được báo động. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để có cơ sở cho việc tính toán và xây dựng, hoạch định chính sách đạt hiệu quả, phù hợp thực tiễn trong xây dựng phát triển kinh tế - xã hội hài hòa với bảo vệ môi trường, đảm bảo môi trường sống cho người dân được an toàn, thì việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và môi trường cũng như các tác động qua lại giữa các chỉ tiêu với nhau để phản ảnh đầy đủ hơn tình hình KTXH, môi trường của khu vực, quốc gia trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi. Tuy nhiên, trong những năm qua, việc đánh giá về chất lượng môi trường sống nói chung và điều kiện vệ sinh môi trường nói riêng trong hệ thống chỉ tiêu thống kê chưa thực sự được chú trọng và quan tâm đúng mức. Trong giai đoạn 2002 - 2010, Việt Nam tập trung vào đẩy mạnh phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo….
Mặc dù cũng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, nhưng chưa quan tâm, đánh giá đúng mức tình hình và các tác động giữa kinh tế - xã hội với môi trường sống, vệ sinh môi trường môi trường để các nhà hoạch định chính sách có cơ sở xây dựng những giải pháp điểu chỉnh những chỉ tiêu nào trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội có tác động tiêu cực đến môi trường sống của con người, để từ đó có hướng xử lý phù hợp giúp phát triển phát triển KTXH hài hòa với bảo vệ môi trường một cách bền vững. Việc nghiên cứu và phân tích mối tương quan giữa một số chỉ tiêu về KTXH với chỉ tiêu điều kiện vệ sinh môi trường của dân cư có thể là bước đi ban đầu trong việc đánh giá mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phát triển KTXH và chỉ tiêu bảo vệ môi trường. Xuất phát từ lý do trên, đề tài tiến hành nghiên cứu phân tích nhằm lựa chọn một số chỉ tiêu cơ bản trong phát triển kinh tế có tác động, ảnh hưởng đến biến động môi trường sống của người dân trên cơ sở sử dụng bộ dữ liệu thống kê từ kết quả của cuộc Điều tra Khảo sát mức sống hộ gia đình, giai đoạn 2002-2010 của cơ quan Tổng cục Thống kê. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đánh giá diễn biến và phân tích mối tương quan của một số chỉ tiêu KTXH với chỉ tiêu về điều kiện vệ sinh môi trường của hộ dân cư tại 2 vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn từ năm 2002 đến 2010.
* NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: - Phân tích và đánh giá diễn biến môi trường sống của người dân vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. - Sử dụng phần mềm phân tích thống kê STATA để chạy mô hình phân tích mối tương quan giữa một số chỉ tiêu phản ánh tình hình KTXH với chỉ tiêu phản ánh điều kiện môi trường sống của người dân giữa 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL năm 2010. - Các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh tế - xã hội: + Thu nhập bình quân + Giáo dục + Y tế + Cơ sở hạ tầng + Hộ nghèo -Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện môi trường sống: + Sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh + Sử dụng hố xí hợp vệ sinh + Hình thức xả rác hợp vệ sinh Sau khi chạy mô hình phân tích thống kê, sử dụng kết quả phân tích mối quan hệ giữa tình hình phát triển kinh tế - xã hội với điều kiện môi trường sống của 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long 1. Vùng đồng bằng sông Hồng 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Đồng bằng sông Hồng (hay còn gọi là vùng châu thổ sông Hồng) là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 11 tỉnh và thành phố như: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Tây (cũ) nay thuộc Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình.
Toàn vùng có diện tích năm 2010 là 14964 km², dân số 18610,5 nghìn người, mật độ dân số là 1244 người/ km², [14]. Địa hình - Địa hình tương đối bằng phẳng với hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống giao thông thuỷ bộ và cơ sở hạ tầng của vùng. - Hệ thống sông ngòi tương đối phát triển, tuy nhiên về mùa mưa lưu lượng dòng chảy quá lớn có thể gây ra lũ lụt, về mùa khô (tháng 10 đến tháng 4 năm sau), xảy ra hiện tượng thiếu nước. Khí hậu: - Đặc trưng khí hậu của vùng là mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa này cũng là mùa khô, mùa xuân có tiết mưa phùn.
Điều kiện về khí hậu của vùng tạo thuận lợi cho việc tăng vụ trong năm vụ đông với các cây ưa lạnh, vụ xuân, vụ hè thu và vụ mùa. Tài nguyên khoáng sản - Đáng kể nhất là tài nguyên đất sét, đặc biệt là đất sét trắng ở Hải Dương, phục vụ cho phát triển sản xuất các sản phẩm sành sứ. Tài nguyên đá vôi phục vụ cho phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng. Nhìn chung khoáng sản của vùng không nhiều chủng loại và có trữ lượng vừa và nhỏ nên việc phát triển công nghiệp phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu từ bên ngoài.
Tài nguyên biển - Đồng bằng sông Hồng có một vùng biển lớn dài 400 km, với bờ biển kéo dài 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ Thuỷ Nguyên - Hải Phòng đến Kim Sơn - Ninh Bình. Bờ biển có bãi triều rộng và phù sa dày là cơ sở nuôi trồng thuỷ hải sản, nuôi rong câu và chăn vịt ven bờ. - Ngoài ra một số bãi biển, đảo có thể phát triển thành khu du lịch như bãi biển Đồ Sơn, huyện đảo Cát Bà,. Tài nguyên đất đai - Đất đai nông nghiệp là nguồn tài nguyên cơ bản của vùng do phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp.
Hiện có trên 103 triệu ha đất đã được sử dụng, chiếm 82,48 % diện tích đất tự nhiên của vùng và chiếm 5,5% diện tích đất sử dụng của cả nước. Như vậy mức sử dụng đất của vùng cao nhất so với các vùng trong cả nước. - Đất đai của vùng rất thích hợp cho thâm canh lúa nước, trồng màu và các cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng có diện tích trồng cây lương thực đứng thứ 2 trong cả nước với diện tích đạt 1242,9 nghìn ha.
Tài nguyên nước Tài nguyên nước phong phú, có giá trị lớn về kinh tế là hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Ngoài ra, còn có nước ngầm, nước nóng, nước khoáng. Tiềm năng và thế mạnh của vùng Đồng bằng sông Hồng. Vùng Đồng bằng sông Hồng là vùng phát triển mạnh về công nghiệp, dịch vụ, nông lâm ngư nghiệp.
Với 21,6% dân số cả nước năm 2010 vùng này đã đóng góp 52.310 tỷ đồng chiếm 22% GDP trong đó có tới 19,4% giá trị gia tăng nông nghiệp và 28,8% giá trị gia tăng dịch vụ của cả nước. Cơ cấu kinh tế ngành có xu hướng dịch chuyển tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp, tỷ trọng ngành dịch vụ đạt tới gần 50%. Ngành nông nghiệp - Đồng bằng sông Hồng là một trong hai vựa lúa của Việt Nam, có nhiệm vụ hỗ trợ lương thực cho các tỉnh phía Bắc và một phần dành cho xuất khẩu. Diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp chiếm tới 57,25% diện tích đất tự nhiên của toàn vùng.
- Tỷ trọng ngành trồng trọt trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp là 23%, chủ yếu là lúa nước, sản lượng lúa chiếm tới 89,21% trong sản lượng lương 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực qui thóc 4,22 triệu tấn, còn lại là các loại lương thực hoa màu như: ngô, khoai, sắn.