Chương 1, tập trung giới thiệu khái quát về thông tin cơ bản của Công Ty Cổ Phần Kỹ Thuật Môi Trường Việt An, cũng như khái quát về bộ máy kế toán đang hoạt động tại đây. Người đọc có thể tìm thấy được quy mô, ngành nghề, chiến lược và nhân sự của công ty, cũng như chức năng chi tiết của từng phân hành trong bộ máy kế toán Việt An. Đây được xem là kiến thức cơ bản chuyên ngành khi tiến hành tìm hiểu phân tích bộ máy kế toán của một doanh nghiệp bất kỳ, và cũng là tiền đề giúp người viết đào sâu vào nội dung ở những chương tiếp theo. 11 do an CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2.
Tổng quan về báo cáo tài chính 2. Khái niệm về báo cáo tài chính “BCTC là sản phẩm quan trọng nhất trong quy trình kế toán, đó là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu, công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.” “BCTC được hình thành từ nhu cầu cung cấp thông tin tổng quát, hữu ích về thực trạng của doanh nghiệp, là phương tiện nối doanh nghiệp với các đối tượng quan tâm. Hệ thống BCTC của doanh nghiệp cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin về tình hình kinh tế, tài chính thông qua việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là báo cáo được công khai và sử dụng như nguồn dữ liệu chính khi phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp.” “Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn đó, hệ thống BCTC ban hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ tài chính Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp định kỳ bắt buộc doanh nghiệp phải lập, nộp.
Theo chế độ kế toán hiện hành, hệ thống BCTC áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước Việt Nam bao gồm 04 mẫu biểu báo cáo sau đây:” - Bảng cân đối kế toán (CĐKT) - Mẫu số B01-DNN - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - Mẫu số B02-DNN - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT) - Mẫu số B03-DN - Bản thuyết minh báo cáo tài chính - Mẫu số B09-DNN Đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa áp dụng hệ thống BCTC ban hành kèm theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ tài chính. Về cơ bản hệ thống báo cáo này cũng tương tự như hệ thống báo cáo theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp của Bộ tài chính, tuy nhiên số lượng báo cáo và nội dung cũng có những khác biệt nhất định. Ý nghĩa của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính trong doanh nghiệp cung cấp cho những đối tượng sử dụng thông tin về tình hình kinh tế - tài chính của các quá trình sản xuất kinh doanh để từ đó các nhà quản trị đưa ra những quyết định cần thiết trong quản lý. Những thông tin trên báo cáo tài chính còn là căn cứ để phân tích và phát hiện những khả năng tiềm tàng về kinh tế, giúp ích cho nhà quản trị trong việc đưa ra các quyết định trong tương lai.
Tổng quan về phân tích báo cáo tài chính 2. Khái niệm về phân tích báo cáo tài chính Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về Phân tích báo cáo tài chính được đưa ra, cụ thể là: “Phân tích báo cáo tài chính là việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích để xem xét mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, từ đó đánh giá về tình hình tài chính hiện tại cũng như dự báo về tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp” (Phạm Thị Thủy, 2013). “Phân tích báo cáo tài chính thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau” ((Nguồn PGS. Nguyễn Ngọc Quang (2011), Phân tích báo cáo tài chính, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân,tr.17) Nguyễn Ngọc Quang, 2011).
“Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp” (Nguyễn Năng Phúc, 2008). “Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành và quá khứ. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai” (Nguyễn Văn Công, 2005).
Ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính “Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp.” “Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội bộ.
Khác với phân tích tài chính bên ngoài do nhà phân tích ngoài doanh nghiệp tiến hành. Do đó thông tin đầy đủ và hiểu rõ về doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế để có thể phân tích tài chính tốt nhất. Vì vậy nhà quản trị doanh nghiệp còn phải quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, hạ chi phí thấp nhất và bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được mục tiêu này khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ.
Như vậy hơn ai hết các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin nhằm thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua để tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần.” “Đối với các nhà đầu tư: Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro. Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý.
Những điều đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư. 14 Đối với các nhà cho vay và cung cấp hàng hóa cho Doanh nghiệp: Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Qua việc phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh để từ đó có thể so sánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.” 14 do an “Đối với cơ quan nhà nước như cơ quan Thuế, Tài chính và người làm thuê cho Doanh nghiệp: qua phân tích báo cáo tài chính sẽ cho thấy thực trạng về tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó sẽ tính toán chính xác mức thuế mà công ty phải nộp, cơ quan Tài chính và cơ quan chủ quản sẽ có biện pháp quản lý hiệu quả hơn.
Bên cạnh các chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư. người lao động có nhu cầu thông tin cơ bản giống họ bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ.” “Từ những ý nghĩa trên, ta thấy phân tích báo cáo tài chính có vai trò quan trọng đối với mọi nhà quản trị trong nền kinh tế thị trường có quan hệ mật thiết với nhau. Đó là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó phát hiện ra các nguyên nhân khách quan, chủ quan giúp cho từng nhà quản trị lực chọn và đưa ra quyết định phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm.” Do vậy, phân tích báo cáo tài chính là công cụ đắc lực cho các nhà quản trị kinh doanh đạt kết quả và hiệu quả cao nhất.
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính Kỹ thuật phân tích: Phân tích theo chiều ngang, phân tích theo chiều dọc, phân tích theo xu hướng, phân tích tỷ số và phương pháp Dupont. Phân tích theo chiều ngang “Phân tích theo chiều ngang là phương pháp đối chiếu, so sánh tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu, từng khoản mục của từng báo cáo tài chính. Thực chất là phân tích sự biến động về quy mô (Nguyễn Năng Phúc, 2008).” Số tuyệt đối cho thấy sự biến động về quy mô trên từng khoản mục. Số tương đối cho thấy tốc độ biến động tương quan với quy mô của kỳ được phân tích so với kỳ gốc.
Số tuyệt đối = Y1 – Y0 Y1 – Y0 Số tương đối = X 100% Y0 15 do an Trong đó: Y1 là trị số chỉ tiêu kỳ phân tích Y0 là trị số chỉ tiêu kỳ gốc Mục đích của phân tích theo chiều ngang là để nhận biết bản chất của các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tình trạng tài chính và quá trình sinh lời. Phân tích theo chiều dọc Phân tích theo chiều dọc là phương pháp sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trên từng báo cáo tài chính hoặc giữa các báo cáo tài chính trong hệ thống báo cáo tài chính. Thực chất là phân tích biến động về cơ cấu (Nguyễn Năng Phúc, 2008).