CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, ý nghĩa và mục đích phân tích báo cáo tài chính 1. Khái niệm Báo cáo tài chính: là những báo cáo tổng hợp về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và dòng tiền trong kỳ của DN; được lập theo những chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Thông qua BCTC, những người sử dụng thông tin có thể đánh giá, phân tích và chẩn đoán được thực trạng và an ninh tài chính, nắm bắt được kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán, xác định giá trị DN, định rõ tiềm năng cũng như dự báo được nhu cầu tài chính cùng những rủi ro trong tương lai mà DN có thể phải đương đầu.
BCTC mang tính bắt buộc do Nhà nước quy định.TS Nguyễn Văn Công 2019) Phân tích BCTC: là quá trình sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích thích hợp để tiến hành xem xét, đánh giá dữ liệu phản ánh trên các trên BCTC cùng các mối quan hệ tương quan giữa các chi tiêu trên BCTC và các dữ liệu liên quan khác nhằm cung cấp thông tin hữu ích, đáp ứng yêu cầu thông tin từ nhiều phía của người sử dụng.TS Nguyễn Văn Công 2019) 1. Ý nghĩa Việc phân tích báo cáo tài chính DN mang những ý nghĩa như sau: - Cung cấp thông tin về tình hình tài chính của DN tại thời điểm báo cáo cùng với những kết quả hoạt động mà DN đạt được trong hoàn cảnh đó; - Đánh giá thực trạng và an ninh tài chính, khả năng thanh toán của DN, tính hợp lý của cấu trúc tài chính;. Từ đó, các nhà quản lý có căn cứ tin cậy, khoa học để đề ra các quyết định quản trị đúng đắn; - Nắm bắt được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lợi, dự báo được nhu cầu tài chính và triển vọng phát triển trong tương lai của DN; 6 - Cung cấp những chỉ tiêu kinh tế - tài chính cần thiết giúp cho việc kiểm tra, đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống tình hình kết quả và hiệu quả HĐKD, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - tài chính chủ yếu của DN, tình hình chấp hành các chế độ kinh tế - tài chính của DN; - Cung cấp các thông tin và căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh tế - kỹ thuật , tài chính của DN, đề ra hệ thống các biện pháp xác thực nhằm tăng cường quản trị DN, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, tăng lợi nhuận cho DN .TS Nguyễn Văn Công 2019) 1. Mục đích Mục đích của phân tích BCTC là giúp người sử dụng thông tin có căn cứ tin cậy, làm giảm sự phụ thuộc vào dự đoán, tạo sự chắc chắn cho các quyết định kinh doanh.
Từ đó, người sử dụng thông tin có thể đánh giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lợi và triển vọng của DN, lựa chọn phương án kinh doanh phù hợp (GS.TS Nguyễn Văn Công 2019) Bởi vậy, phân tích BCTC là mối quan tâm của nhiều đối tượng, các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính có thể chia làm 2 nhóm: Nhóm có quyền lợi trực tiếp và nhóm có quyền lợi gián tiếp. Với mỗi nhóm đối tượng việc phân tích BCTC sẽ có mục đích khác nhau - Nhóm có quyền lợi trực tiếp bao gồm các nhà đầu tư, những chủ nợ, nhà cung cấp tín dụng, cơ quan thuế và các nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp. • Nhà đầu tư: Trong trường hợp doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, thông tin BCTC của doanh nghiệp sẽ được công bố, khi đó nhà đầu tư dựa vào đó đánh giá thu nhập, rủi ro để quyết định nên đầu tư hay rút vốn. 7 • Các nhà quản lý doanh nghiệp: Những nhà quản lý doanh nghiệp là những người trực tiếp quản lý, điều hành vì vậy phân tích báo cáo tài chính giúp họ nắm được các tình hình kinh doanh và hoạt động tài chính cả doanh nghiệp, xác định được những thế mạnh và những biểu hiện tốt, không tốt bất cập trong vấn đề tài chính có thể làm ảnh hưởng tới sự phát triển lâu dài của công ty.
Ngoài ra dựa vào việc phân tích các nhà quản lý sẽ tính toán đưa ra dự đoán tài chính, tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp. • Những chủ nợ, nhà cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp như các ngân hàng, tổ chức cho vay tài chính, người mua trái phiếu của doanh nghiệp, hay các doanh nghiệp khác…thực hiện phân tích báo cáo tài chính qua đó đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp và ra quyết định tín dụng với mức cho vay, thời gian cho vay, hình thức thu nợ… một cách phù hợp nhất. • Các cơ quan thuế cần thông tin từ phân tích báo cáo tài chính để xác định số thuế mà doanh nghiệp phải nộp - Nhóm có quyền lợi gián tiếp: Gồm các cơ quan quản lý Nhà nước khác ngoài cơ quan thuế, người lao động, các viện nghiên cứu, sinh viên (6) • Người lao động: Hiểu được tình hình tài chính của doanh nghiệp để biết được khả năng phát triển của mình khi làm trong doanh nghiệp • Cơ quan quản lý Nhà nước: Dựa vào phân tích tài chính để đánh giá tác động của các chính sách điều tiết vĩ mô • Viện nghiên cứu, sinh viên: quan tâm đến thông tin phân tích báo cáo tài chính nhằm phụ vụ cho học tập và nghiên cứu của mình. 8 Có nhiều nhóm đối tượng quan tâm đến thông tin, tự phân tích BCTC nhưng nhìn chung họ họ đều chú ý đến khả năng tạo tiền, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được.
Tài liệu phân tích Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Bộ Tài chính về ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp, hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, bao gồm 4 loại báo cáo sau: - Bảng cân đối kế toán, mẫu số B01-DN - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, mẫu số B02-DN - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, mẫu số B03-DN - Thuyết minh báo cáo tài chính, mẫu số B09-DN Khóa luận sử dụng 2 loại báo cáo là Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh làm nguồn tài liệu thực hiện phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định. Nội dung của BCĐKT thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản. Các chỉ tiêu được phân loại, sắp xếp thành từng loại, từng mục, từng chỉ tiêu cụ thể.
BCĐKT thể hiện những tài sản do công ty quản lý và nguồn hình thành của những tài sản này theo phương trình kế toán: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn Phần Tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Thông qua đó, có thể 9 đánh giá một cách tổng quát quy mô vốn và mức độ phân bổ sử dụng vốn của doanh nghiệp. Phần Nguồn vốn phản ảnh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp. Số liệu ở phần này cho biết quy mô và cơ cấu các nguồn vốn vay và vốn chủ sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư.
Thông qua đó có thể đánh giá một cách khái quát mức độ tự chủ và khả năng rủi ro về tài chính của doanh nghiệp. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) là một BCTC kế toán tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán. BCKQKD là tài liệu quan trọng, cung cấp số liệu cho người sử dụng thông tin có thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, so sánh với các kỷ trước và các doanh nghiệp khác trong cùng ngành để nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng vận động nhằm đưa ra các quyết định quản lý và quyết định tài chính cho phù hợp. Các thông tin trình bày trên báo cáo két quả kinh doanh phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: - Nguyên tắc phân loại hoạt động: BCKQKD phân loại hoạt động theo mức độ thông dụng của hoạt động đối với doanh nghiệp.
Như vậy, các hoạt động thông thường của doanh nghiệp sẽ được phân loại là hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động này tạo ra doanh thu của doanh nghiệp. Các hoạt động liên quan đến đầu tư tài chính được phân loại là hoạt động tài chính, hoạt động không xảy ra thường xuyên sẽ được phân loại là hoạt động bất thường. - Nguyên tắc ghi nhận doanh thu và chi phí bao gồm 2 nguyên tắc: 10 • Nguyên tắc phù hợp: BCKQKD trình bày các khoản doanh thu, thu nhập và chi phi của doanh nghiệp trong kỳ. Vì vậy, BCKQKD phải được trình bày theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.
• Nguyên tắc thận trọng: Theo nguyên tắc này, một khoản chưa xác định chắc chắn sẽ đem lại lợi ích kinh tế trong tương lại cho doanh nghiệp thì chưa được ghi nhận là doanh thu trong kỳ của doanh nghiệp và không được trình bày trên BCKQKD. Ngược lại, một khoản lỗ trong tương lại chưa thực tế phát sinh đã được ghi nhận là chi phí và được trình bày trên BCKQKD. BCKQKD gồm có 3 phần: - Phần I: Lãi, lỗ, phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác. - Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ về thuế và các khoản phải trả khác của doanh nghiệp đối với Nhà nước - Phần III: Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, được miễn giảm: phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ và còn được khấu trừ cuối kỳ, số thuế GTGT được hoàn lại và còn được hoàn lại, số thuế GTGT được miễn giảm đã miễn giảm và còn được miễn giảm.