Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề cơ bản về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Chương 3: Phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần dây cáp điện Việt Nam (Giai đoạn năm 2021-2023) Chương 4: Giải pháp đề xuất đối với Công ty Cổ phần dây cáp điện Việt Nam 4 CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2. Tổng quan về Phân tích báo cáo tài chính trong Doanh nghiệp 2. Khái niệm Luật Kế toán 2019 định nghĩa “BCTC là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.” và quy định “BCTC của đơn vị kế toán dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị kế toán.
BCTC của đơn vị kế toán gồm: Báo cáo tình hình tài chính; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh BCTC; Báo cáo khác theo quy định của pháp luật”. Bên cạnh đó, cũng có những định nghĩa khác về BCTC như sau: “BCTC là một bức tranh tổng hợp phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, KQKD và các quan hệ tài chính của DN tại một thời điểm hay thời kỳ. “Hệ thống BCTC được hình thành dựa trên cơ sở tổng hợp những số liệu từ các sổ kế toán tổng hợp, chi tiết của DN. Báo cáo kế toán tài chính phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, các quan hệ tài chính của DN tại thời điểm nhất định.
Đồng thời phản ánh doanh thu, chi phí và KQKD sau một kỳ hoạt động. Như vậy, BCTC cung cấp thông tin về tình hình kinh tế - tài chính của các quá trình SXKD cho các đối tượng sử dụng BCTC, từ đó có thể đưa ra những dự đoán và quyết định cần thiết để điều hành DN một cách hiệu quả hơn. Ý nghĩa và hạn chế “Phân tích BCTC thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo nhằm đánh giá tình hình tài chính của DN, cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau. BCTC không chỉ đóng vai trò cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng bên ngoài DN mà còn là công cụ quản lý quan trọng trong nội bộ DN, hỗ trợ các đối tượng bên trong DN đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn.
Đối tượng sử dụng thông tin này bên trong DN là ban điều hành, đối tượng sử dụng thông tin thông qua phân tích BCTC để đưa ra các quyết định kinh doanh. Các đối tượng bên ngoài DN như nhà đầu 5 tư, tổ chức tín dụng/người cho vay và cơ quan quản lý nhà nước cũng khai thác thông tin thông qua phân tích BCTC để đưa ra những quyết định liên quan đến DN. Đối với ban điều hành: là những người trực tiếp điều hành DN, họ cần nắm rõ tình hình tài chính và hoạt động của DN. Thông tin từ việc phân tích BCTC hỗ trợ họ trong việc đánh giá khả năng tài chính, hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, khả năng sinh lời và tích lũy lợi nhuận.
Nhờ đó, ban điều hành có thể đưa ra các quyết định quan trọng như huy động vốn và phân bổ lợi nhuận. Đồng thời, phân tích BCTC còn là cơ sở cho dự toán tài chính, lập kế hoạch huy động và đầu tư vốn, góp phần củng cố thương hiệu của DN. Đối với các nhà đầu tư, tổ chức tín dụng, người cho vay: BCTC cung cấp thông tin về khả năng tài chính, thanh khoản và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, giúp họ có căn cứ để đưa ra quyết định có nên đầu tư hay cấp tín dụng không. Đối với cơ quan quản lý nhà nước: BCTC cung cấp thông tin toàn diện về tình hình tài chính, việc tuân thủ pháp luật và tiến trình thực hiện nộp ngân sách, từ đó hỗ trợ cho quá trình kiểm tra và tư vấn cho DN.
Mặc dù, việc phân tích BCTC có nhiều ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nhưng cũng có nhiều hạn chế đến ngay từ bản thân thông tin phản ánh trên BCTC cũng như từ phía người sử dụng thông tin hay từ công cụ và kỹ thuật phân tích BCTC như: Những hạn chế đến từ thông tin phản ánh trên BCTC: BCTC chỉ phản ánh giá trị giao dịch và sự kiện đã xảy ra thông qua thước đo giá trị mà không phản ánh các thước đo về hiện vật hay thời gian, khiến người sử dụng thông tin gặp khó khăn trong việc hiểu được bản chất, quy mô và ảnh hưởng của các giao dịch, sự kiện. Độ tin cậy của thông tin trên BCTC bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như sự hiểu biết và ý thức tuân thủ chuẩn mực khác nhau của người làm kế toán, người quản lý hay tính đầy đủ và chính xác của các ước tính kế toán. Các nhà quản lý và người làm kế toán có thể sử dụng các nguyên tắc kế toán để “phù phép” các chỉ tiêu để phục vụ các mục đích riêng khiến cho việc phân tích BCTC mất đi tính khách quan. Thông tin phản ánh trên BCTC cũng chịu ảnh hưởng nhiều của tình hình lạm phát hay yếu tố mùa vụ của hoạt động kinh doanh.
Lạm phát tác động đến thông tin ghi nhận, dẫn đến việc sai lệch của thông tin tài chính, làm cho việc tính toán và so sánh số liệu giữa các năm trở nên không đáng tin cậy. Hơn nữa, thông tin trên BCTC chịu ảnh hưởng của tính thời vụ khiến cho các chỉ tiêu tài chính không 6 ổn định và có xu hướng biến động bất thường, điều này dẫn đến việc nhận xét, đánh giá hết sức khó khăn, dễ nhầm lẫn. Do nhiều thông tin phản ánh trên BCTC là kết quả của các ước tính kế toán nên nhiều khi không đầy đủ và thiếu chính xác. Mặt khác, sự biến động không đồng nhất của các chỉ tiêu tài chính cũng khiến cho việc đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN trở nên ít có ý nghĩa và kém hiệu quả.
Những hạn chế từ phía người sử dụng thông tin: Tính hữu dụng của thông tin phản ánh trên BCTC và thông tin phân tích BCTC cũng bị giới hạn bởi người sử dụng. Trong khi BCTC chỉ phản ánh các sự kiện, giao dịch đã xảy ra trong quá khứ thì người sử dụng lại quan tâm nhiều hơn đến tương lai. Bên cạnh đó, để nắm bắt được các thông tin phản ánh trên BCTC đòi hỏi người sử dụng thông tin phải có vốn hiểu biết và kinh nghiệm nhất định về tài chính kế toán… Những hạn chế từ kỹ thuật phân tích: Kỹ thuật so sánh đòi hỏi phải có số liệu bình quân ngành/ bình quân khu vực…trong khi trên thực tế rất khó thu thập được các dữ liệu này cũng như khó phân tách trong các DN đa ngành. Sự thiếu vắng về hệ thống dữ liệu bình quân ngành để so sánh cũng làm giảm đi phần nào ý nghĩa của việc đánh giá tình hình tài chính DN.
Sự thiếu nhất quán và đồng nhất trong công thức tính toán của một số chỉ tiêu phân tích BCTC dẫn đến việc tiềm ẩn nhiều rủi ro khi so sánh số liệu phân tích từ các nguồn khác nhau. Nội dung phân tích BCTC 2. Phân tích cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo vốn 2. Đánh giá khái quát tình hình tài chính “Tình hình tài chính của DN thể hiện sự tồn tại cũng như nỗ lực của DN trên mọi mặt hoạt động, là kết quả tất yếu của mọi hoạt động mà DN tiến hành.
Dựa vào tình hình tài chính DN, người sử dụng thông tin biết được tình trạng tài chính hay trạng thái tài chính cụ thể cũng như xu thế phát triển của DN về cả an ninh tài chính, mức độ độc lập tài chính, về tình hình và khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi và tốc độ tăng trưởng bền vững. Đồng thời, cũng qua xem xét tình hình tài chính hiện tại, người sử dụng thông tin có thể dự báo được những chỉ tiêu tài chính chủ yếu trong tương lai, dự 7 báo được những thuận lợi hay khó khăn mà DN có thể phải đương đầu.” (Nguyễn Văn Công, 2019, 250) Phân tích khái quát tình hình tài chính là việc xem xét và đưa ra đánh giá chung về tài chính DN. Hoạt động này giúp người sử dụng thông tin hiểu được tình hình tài chính của DN. Để đánh giá khái quát mức độ tự chủ tài chính, các hệ số tự tài trợ thường được sử dụng để phân tích, bao gồm: hệ số tài trợ, hệ số nợ và đòn bẩy tài chính, hệ số tự tài trợ TSDH, hệ số tự tài trợ TSCĐ.
Những hệ số này thể hiện khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính cũng như mức độ độc lập về tài chính của DN. Mức độ độc lập, tự chủ tài chính cho thấy mức độ mà DN không phụ thuộc hoặc bị chi phối bởi các tổ chức hay cá nhân bên ngoài trong quá trình quản lý, điều hành và ra các quyết định. An ninh tài chính phản ánh mức độ an toàn và ổn định về mặt tài chính. Mức độ tự chủ tài chính và an ninh tài chính càng cao, DN càng có sự độc lập tài chính cao và ngược lại.
Hệ số tài trợ: Chỉ tiêu này cho biết “1 đồng tài sản của DN được tài trợ bởi mấy đồng VCSH. Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, mức độ tự chủ về mặt tài chính của DN càng cao và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, mức độ tự chủ về mặt tài chính của DN càng thấp, dẫn đến mức độ độc lập về tài chính của DN càng thấp. “Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của DN. Chỉ tiêu này cho biết, tại thời điểm phân tích DN có 1 đồng nguồn vốn thì bao nhiêu đồng thuộc về VCSH.
Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính càng tốt. Chỉ tiêu này thấp chứng tỏ DN phụ thuộc tài chính với các đối tượng chủ nợ.” (Nguyễn Ngọc Quang, 2021, 104) Vốn chủ sở hữu Hệ số tài trợ = [2.1] Tổng nguồn vốn (Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2021, 104) Hệ số nợ (hệ số nợ so với tài sản) và đòn bẩy tài chính: “Đòn bẩy tài chính là mối quan hệ tỷ lệ giữa tổng số nợ và VCSH, hay hệ số nợ.