Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Hiện nay, trên thế giới cũng như trong nước, vấn đề PPTN trong quá trình TTKT, vấn đề BBĐ trong PPTN được nhiều nhà kinh tế, học giả quan tâm nghiên cứu, được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Tác giả xin tổng quan một số công trình tiêu biểu liên quan mật thiết đến vấn đề nghiên cứu của luận án như sau: 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Với tư cách là đại biểu mở đầu của trường phái kinh tế chính trị cổ điển, W.
Petty (1623-1687) khi phân tích lý luận về tiền lương, đã cho rằng, tiền lương là một hiện tượng kinh tế mới. chưa từng xuất hiện trong xã hội phong kiến trước đó. Nó là khoản tư liệu sinh hoạt tối thiểu cần thiết cho người công nhân và không vượt quá mức này. Ông phản đối việc trả lương cao vì như thế người công nhân không muốn làm việc mà chỉ thích uống rượu.
Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chưa phát triển, năng suất lao động xã hội thấp, chỉ có giảm mức tiền lương của người công nhân xuống tối thiểu cần thiết mới đảm bảo lợi nhuận cho nhà tư bản. Petty là người đầu tiên đề cập đến quy luật sắt về tiền lương, ông thấy được mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tiền lương và lợi nhuận. Ông đã cố gắng giải thích các phạm trù về giá trị thặng dư, địa tô, lợi tức cho vay nhưng vẫn chưa làm rõ được bản chất của các phạm trù này. Chia sẻ tư tưởng về quy luật sắt về tiền lương của W.
Petty, Quesney (1694-1774), với quan niệm nông nghiệp là ngành sản xuất duy nhất, chỉ có lao động nông nghiệp mới là lao động sản xuất, cho rằng cần phải để cho tiền lương bằng với mức sống tối thiểu, bởi vì cung lao động luôn lớn hơn cầu về lao động nên nhà tư bản có điều kiện trả lương ở mức tối thiểu. Cách nhìn của A. Smith (1723- 1790) về hệ thống thu nhập trong CNTB có một bước tiến lớn khi ông cho rằng, trong xã hội tư sản có ba giai cấp cơ bản gắn với quyền sở hữu tư liệu sản xuất và thu nhập, đó là, giai cấp công nhân–thu nhập là tiền lương, giai cấp tư bản-thu nhập là lợi nhuận và giai cấp địa chủ - thu nhập là địa tô. Ông là người đầu tiên phân biệt sự khác nhau giữa các 10 PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở PHÚ YÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ tầng lớp trong xã hội và khẳng định: những giai cấp 11 PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở PHÚ YÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ cơ bản gắn với sản xuất vật chất nhận được cái gọi là thu nhập ban đầu (tiền lương, lợi nhuận, địa tô) và các tầng lớp còn lại nhận thu nhập do phân phối lại.
Smith cho rằng, trong chủ nghĩa tư bản, tiền lương cần phải đủ để người công nhân mua tư liệu sinh hoạt và phải cao hơn mức đó. Vì nếu tiền lương quá thấp, người công nhân sẽ bỏ việc và ra nước ngoài làm việc. Tiền lương cao sẽ kích thích tiến bộ kinh tế, làm tăng năng suất lao động xã hội. Smith cho rằng mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là lợi nhuận và nó phù hợp với lợi ích xã hội.
Về lý luận địa tô, A. Smith có nhiều mâu thuẫn và chịu ảnh hưởng nhiều từ chủ nghĩa trọng nông. Ông cho rằng địa tô là khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm của lao động và lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai. Smith đã sai lầm khi phủ nhận sự tồn tại của địa tô tuyệt đối.
Theo ông, kinh doanh trên ruộng đất xấu mà phải nộp tô là trái với quy luật giá trị. Ricardo (1772-1823) đã phát triển lý luận phân phối của Smith về phân phối lần đầu của ba giai cấp cơ bản trong xã hội trên cơ sở lý luận giá trị lao động. Ông cho rằng, nếu tiền lương tăng thì làm cho lợi nhuận giảm và ngược lại, nhưng sự vận động này không ảnh hưởng đến địa tô. Ricardo coi lao động cũng như các hàng hoá khác có giá cả thị trường và giá cả tự nhiên.
Giá cả thị trường của lao động là tiền lương, nó lên xuống xung quanh giá cả tự nhiên của lao động. Giá cả tự nhiên của lao động bằng với giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người công nhân và gia đình anh ta. Đồng thời, Ricardo cũng ủng hộ quy luật sắt về tiền lương của W. Petty khi khẳng định tiền lương phải ở mức tối thiểu và không được cao hơn mức đó.
Vê lợi nhuận, ông cho rằng, người công nhân tạo ra giá trị lớn hơn tiền lương của mình, đó là lợi nhuận của nhà tư bản. Ông phát hiện ra mối quan hệ nghịch biến giữa tiền công và lợi nhuận, và sự đối lập lợi ích kinh tế giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trong lĩnh vực phân phối. Theo Ricardo, lợi nhuận là thu nhập của tư bản công nghiệp nhận được so với tư bản ứng trước. Ông cũng không nhận ra sự tồn tại của địa tô chênh lệch II.
Như vậy, có thể khẳng định, các nhà kinh tế cổ điển cho rằng nguồn gốc thu nhập của các cá nhân sẽ phụ thuộc vào số lượng cũng như chất lượng của nhân tố sản xuất mà họ có thể cung cấp. Nói cách khác, trong nền KTTT, PPTN sẽ phụ thuộc vào việc phân phối các yếu tố nguồn lực đầu vào của sản xuất. Khi đề cập tới vấn đề PPTN, các nhà kinh tế học hiện đại chú ý nhiều hơn đến mối 12 PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở PHÚ YÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ quan hệ giữa TTKT và BBĐ thu nhập. Một trong những công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về mối quan hệ giữa PPTN và TTKT được thực hiện bởi Simon Kuznets (1955).
Trong tác phẩm Tăng trưởng kinh tế và chênh lệch thu nhập (Economic Growth and Income Inequality), ông đã chỉ ra mối quan hệ giữa BBĐ thu nhập và TTKT được thể hiện thông qua chữ “U ngược”. Dựa vào số liệu điều tra của Uỷ ban điều tra dân số Mỹ và số liệu thuế thu nhập, ông đã phát hiện ở giai đoạn đầu của quá trình TTKT, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra rất nhanh, khi TTKT đạt đến một mức độ nhất định thì chênh lệch giàu nghèo có xu hướng giảm. Vấn đề này không chỉ đúng với Hoa Kỳ mà còn phù hợp với dữ liệu của nhiều nước khác mà S. Kuznets nghiên cứu.
Về sau, các nhà kinh tế khác nhau tiếp tục khảo sát dữ liệu ở nhiều quốc gia khác nhau nhằm kiểm chứng và chi tiết hóa các kết luận của Kuznets. Ahluwwalia (1976), Psacharopoulos và các cộng sự (1995) cho rằng BBĐ thu nhập có xu hướng thu hẹp dần khi nền kinh tế phát triển cao và BBĐ thu nhập có khuynh hướng tăng lên trong giai đoạn đầu phát triển. Ngược lại, trong các công trình của mình, Deininger và Squyre (1996), Chen và Ravallion (1997), Easterly (1999), Dollar và Craay (2002) lại cho rằng TTKT không có tác động đến BBĐ thu nhập. Persson và Tabellini (1994), Clarke (1995) khẳng định BBĐ trong PPTN gây tổn hại cho quá trình TTKT.
Li và Zou (1998), Frank (1998) kết luận rằng BBĐ trong PPTN có tác động cùng chiều đối với TTKT. Còn theo Baro (1999), BBĐ thu nhập là yếu tố thúc đẩy TTKT ở các nước giàu và cản trở TTKT ở các nước nghèo. Alesina và Rodrik (1994), Persson và Tabellini (1994), và Perrotti (1996) nhận xét rằng các nước có mức BBĐ thấp hơn có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn; theo họ, BBĐ có ảnh hưởng đến tăng trưởng thông qua kênh đầu tư và BBĐ thu nhập làm giảm tốc độ tăng trưởng do làm tăng áp lực phải phân phối lại. Theo Perrotti, dân chủ không tác động đến mối quan hệ giữa BBĐ thu nhập và TTKT, PPTN bình đẳng hơn sẽ thúc đẩy TTKT.
Ông cho rằng, có mối liên kết mạnh giữa BBĐ, bất ổn xã hội và chính trị; TTKT sẽ nhanh hơn và xã hội sẽ công bằng hơn khi tỷ lệ đầu tư cho giáo dục ở mức cao. Li và Zhou (1998) sử dụng số liệu mảng từ 46 quốc gia và kết luận rằng TTKT và BBĐ thu nhập có mối tương quan dương. 13 PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở PHÚ YÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ Partridge (1997) đã nghiên cứu mối liên hệ giữa 14 PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở PHÚ YÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ BBĐ và TTKT giữa các bang của Hoa Kỳ trong ba thập kỷ từ năm 1960 đến năm 1990 và chỉ ra rằng: những bang có hệ số GINI cao có tốc độ TTKT cao hơn. Kết quả phân tích BBĐ thu nhập các bang ở Mỹ giai đoạn năm 1945-2004 của Frank (2009 cũng cho thấy BBĐ thu nhập và TTKT có mối quan hệ dương trong dài hạn; nguyên nhân chủ yếu là do thu nhập được tập trung nhiều hơn vào tay những người giàu khi xã hội càng phát triển.
Dahlby and Ferede (2013) xem xét mối liên hệ giữa TTKT và BBĐ thu nhập dựa trên bộ dữ liệu mảng các tỉnh của Canada, kết quả phân tích cho thấy mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê. Khảo sát sâu hơn mối quan hệ giữa TTKT và PPTN, Oded Galor và Joseph Zeira (1992) đã phân tích vai trò của phân phối của cải (tài sản) đối với hoạt động kinh tế vĩ mô thông qua sự đầu tư vào vốn nhân lực. Theo các ông, trong điều kiện thị trường tín dụng chưa hoàn thiện, sự phân phối của cải có tác động to lớn đối với các hoạt động kinh tế vĩ mô và các tác động này thường được duy trì trong dài hạn. Sự phân phối tài sản ban đầu, thể hiện ở phần trăm dân số được thừa kế một lượng tài sản đủ lớn để thúc đẩy họ đầu tư vào vốn nhân lực, có ảnh hưởng mạnh đến TTKT.
Như vậy, các nghiên cứu ngoài nước đã đưa ra những kết quả không đồng nhất và thậm chí trái ngược nhau. Forbes (2000) phát hiện ra năm yếu tố có vai trò quan trọng giải thích cho những kết quả mâu thuẫn này: (i) sử dụng các biến khác nhau, (ii) các mẫu nghiên cứu khác nhau, (iii) chất lượng dữ liệu khác nhau, (iv) khoảng thời gian khác nhau và (v) sai lệch vì bỏ biến trong các nghiên cứu sử dụng số liệu chéo.