Luận văn thạc sĩ điều tra sự phân bố và phân loại các loài thuộc chi kim ngân lonicera l họ kim ngân caprifoliaceae ở việt nam

Luận văn thạc sĩ phân tích điều tra sự phân bố và phân loại các loài thuộc chi kim ngân lonicera l họ kim ngân caprifoliaceae, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Thực vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2015

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: Phân loại chi Lonicera L. trên thế giới và một số vấn đề khác có liên quan

1.1. Một vài quan điểm phân loại chi Lonicera và họ Caprifoliaceae

1.2. Kết quả nghiên cứu phân loại chi Lonicera ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ

1.3. Nghiên cứu phân loại và sự phân bố của các đại diện thuộc chi Lonicera L.

1.3.1. Nghiên cứu phân loại

1.3.2. Nghiên cứu về phân bố

1.3.3. Vài nét về việc nghiên cứu Kim ngân làm thuốc

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả về việc giám định và chỉnh lý tên khoa học

3.2. Số mẫu thuộc chi Lonicera L. đã được nghiên cứu và thu thập thêm

3.3. Kết quả phân loại và giám định loài

3.4. Đặc điểm chung của chi và xây dựng khóa phân loại các loài thuộc chi Kim ngân (Lonicera L.) hiện có ở Việt Nam

3.4.1. Đăc điểm hình thái nổi bật của chi Lonicera ở Việt Nam

3.4.2. Khóa phân loại chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae ở Việt Nam

3.5. Một số thông tin về 11 loài Kim ngân đã biết ở Việt Nam

3.6. Sự phân bố của các loài thuộc chi Lonicera L. hiện có ở Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1. PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2. PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3. PHỤ LỤC 3

PHỤ LỤC 4. PHỤ LỤC 4

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân loại và phân bố chi Kim ngân ở Việt Nam

Chi Kim ngân (Lonicera L.) thuộc họ Kim ngân (Caprifoliaceae) là một trong những nhóm thực vật quan trọng ở Việt Nam. Với khoảng 9 loài đã được ghi nhận, chi này không chỉ có giá trị về mặt sinh thái mà còn có ứng dụng trong y học cổ truyền. Các loài Kim ngân thường được sử dụng để chữa trị nhiều bệnh lý khác nhau, từ cảm cúm đến viêm gan. Tuy nhiên, việc phân loại và phân bố của chúng vẫn còn nhiều điều chưa được làm rõ.

1.1. Đặc điểm sinh thái và môi trường sống của chi Kim ngân

Chi Kim ngân thường phân bố ở các vùng núi cao và khu vực có khí hậu ôn đới. Chúng thường mọc ở những nơi có độ ẩm cao, trong các rừng hỗn giao hoặc rừng lá rộng. Đặc điểm này giúp chúng phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái địa phương.

1.2. Vai trò của chi Kim ngân trong y học cổ truyền

Kim ngân được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền Việt Nam. Hoa và lá của các loài Kim ngân có tác dụng hạ sốt, lợi tiểu và kháng khuẩn. Nghiên cứu cho thấy, các hợp chất trong Kim ngân có khả năng cải thiện chuyển hóa chất béo, hỗ trợ điều trị bệnh lipid máu.

II. Thách thức trong việc phân loại chi Kim ngân ở Việt Nam

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về chi Kim ngân, nhưng việc phân loại vẫn gặp nhiều khó khăn. Các tài liệu hiện có chủ yếu dựa trên các đặc điểm hình thái, trong khi chưa có nghiên cứu sâu về di truyền và phân tích phân tử. Điều này dẫn đến sự không đồng nhất trong việc xác định loài và phân bố của chúng.

2.1. Những khó khăn trong việc xác định loài Kim ngân

Việc xác định loài Kim ngân gặp khó khăn do sự tương đồng về hình thái giữa các loài. Nhiều loài có đặc điểm hình thái tương tự nhau, dẫn đến nhầm lẫn trong phân loại. Hơn nữa, sự thiếu hụt tài liệu nghiên cứu cũng là một thách thức lớn.

2.2. Tình trạng bảo tồn chi Kim ngân ở Việt Nam

Một số loài Kim ngân đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do mất môi trường sống và khai thác quá mức. Việc bảo tồn các loài này là rất cần thiết để duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ hệ sinh thái.

III. Phương pháp nghiên cứu phân loại chi Kim ngân hiệu quả

Để phân loại chi Kim ngân một cách chính xác, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại. Việc kết hợp giữa phân tích hình thái, di truyền và sinh học phân tử sẽ giúp xác định rõ ràng hơn các loài trong chi này.

3.1. Phân tích hình thái và mô tả đặc điểm

Phân tích hình thái là bước đầu tiên trong việc phân loại. Các đặc điểm như hình dạng lá, hoa và quả sẽ được ghi nhận và mô tả chi tiết. Điều này giúp tạo ra khóa phân loại cho các loài Kim ngân.

3.2. Ứng dụng công nghệ sinh học trong phân loại

Công nghệ sinh học, đặc biệt là phân tích DNA, có thể cung cấp thông tin quý giá về mối quan hệ giữa các loài. Việc sử dụng các phương pháp này sẽ giúp xác định chính xác hơn các loài Kim ngân và phân bố của chúng.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của chi Kim ngân

Nghiên cứu về chi Kim ngân đã mang lại nhiều kết quả quan trọng. Các loài Kim ngân không chỉ được xác định rõ ràng hơn mà còn có ứng dụng thực tiễn trong y học và bảo tồn sinh thái. Những kết quả này sẽ góp phần nâng cao giá trị của chi Kim ngân trong đời sống.

4.1. Kết quả phân loại các loài Kim ngân ở Việt Nam

Đến nay, đã có 9 loài Kim ngân được xác định tại Việt Nam. Các loài này phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi và có giá trị dược liệu cao. Việc phân loại chính xác sẽ giúp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên này.

4.2. Ứng dụng của chi Kim ngân trong y học hiện đại

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chi Kim ngân có nhiều hợp chất có lợi cho sức khỏe. Việc ứng dụng các loài này trong y học hiện đại sẽ mở ra hướng đi mới trong việc phát triển dược liệu tự nhiên.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của chi Kim ngân

Chi Kim ngân có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và y học cổ truyền. Việc nghiên cứu và bảo tồn các loài này là cần thiết để duy trì đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Tương lai, cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để làm rõ hơn về chi Kim ngân và ứng dụng của chúng.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn chi Kim ngân

Bảo tồn chi Kim ngân không chỉ giúp duy trì đa dạng sinh học mà còn bảo vệ các giá trị văn hóa và y học truyền thống. Cần có các chính sách bảo tồn hiệu quả để bảo vệ các loài này.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về di truyền và sinh học phân tử của chi Kim ngân. Điều này sẽ giúp xác định rõ hơn các loài và mối quan hệ giữa chúng, từ đó có những biện pháp bảo tồn hiệu quả.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Phân loại chi Lonicera L. trên thế giới và một số vấn đề khác có liên quan. Một vài quan điểm phân loại chi Lonicera và họ Caprifoliaceae Trong bộ“Species plantarium” năm 1753, Carl Von Linnaeus đã đề cập Danh pháp loài thực vật gồm 2 từ ghép của tên chi và từ tính ngữ chỉ loài.

Đồng thời cũng trong tài liệu này, lần đầu tiên C. Von Linnaeus đã đặt tên chi Lonicera, gồm 15 loài và được xếp vào họ Caprifoliaceae [37]. Năm 1760, trong tạp chí “ Definitiones Generum Plantarum”, tác giả Boehmer, Georg Rudolf cũng đặt tên chi là Lonicera Boehm., nhưng lại xếp chi này vào họ Loranthraceae [28]. Năm 1763, trong tập 2 “Familles naturelles des Plantes”, Adanson và Michel xếp chi Lonicera vào họ Rubiaceae, bởi các đặc điểm lá mọc đối, có lá kèm, bầu hạ [5].

Đến năm 1818, Trong “Anleittung zum Gründlichen Studien der Botanik”, Vest, Lorenz Chrysanth von lại nâng chi Lonicera L. lên thành họ Loniceraceae và trong đó vẫn giữ lại chi Lonicera L. Gần chục năm sau (1827), trong “Systema vegetabilium” Vol. IV”, Carol Linniei đã căn cứ vào các đặc điểm cơ bản, như tràng liền, nhiều hạt …để quay trở lại quan điểm lập Lonicera L.

là một chi riêng và Ông cũng mô tả có 16 loài [29]. Trong đó, loài Lonicera japonica Thunb. cũng có ở Việt Nam. Trong cuốn “Genera plantarum secundum ordines naturals disposita” năm 1789, A.

de Jussieu dựa trên các đặc điểm tương đồng giữa 3 họ là Diervillaceae, Linnaeaceae, Loniceraceae nên đã gộp 3 họ này vào thành một họ là Caprifoliaceae [17]. Quan điểm này được các nhà Thực vật học sau này ủng hộ và cũng giữ nguyên quan điểm này trong các công trình ra đời sau đó, kể cả sau này Takhtajan, nhà thực vật học lỗi lạc của Nga cũng vậy. de Jussieu xếp các chi trong họ Caprifoliaceae dựa vào những đặc điểm chính như sau: (.) Ống đài hoa dạng cốc ở phần ngực hoa. Gồm có các chi: Linnaea L., Symphoricarpos, Diervilla, Xylosteon, Caprifolium, Lonicera.

3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.) Ống đài hoa dạng cốc ở phần ngực hoa. Tràng hoa nhiều, rời gồm các chi như sau: Loranthus, Lonicera, Viscum, Rhizophora L.) Đài hình mũi mác, tràng liền đơn. Gồm có các chi như sau: Viburnum, Hortensia, Sambucus.) Đài phức tạp, có vòi nhụy rõ rệt. Tràng hoa nhiều, rời.

Gồm có các chi như sau: Cornus, Hedera. Từ 1824 đến 1841, Augustin Pyramus de Candolle cho ra series công trình mang tên “Prodromus systematis naturalis regni vegetabilis”, tác giả mô tả chi Lonicera có 54 loài, trong đó có 3 loài sau này cũng biết có ở Việt Nam, như Lonicera macrantha, L. Trong cuốn “Annales Musei Botanici Lugduno-Batavi”, năm 1863, tác giả Rijksherbarium để chi Lonicera thuộc họ Lonicereae. Các loài trong chi Lonicera được đề cập là 10 loài, trong đó cũng có 3 loài sau này biết có ở Việt Nam là Lonicera japonica, Lonicera cofusa, L.

Năm 1865, Trong cuốn sách “Annales Musei Botanici”, tác giả F. Miguel xếp chi Lonicera L. vào họ Lonicereaceae gồm có 10 loài, trong đó có loài L. là thấy có ở Việt Nam [30].

Công trình “The Journal of the Linnean Society, vol XXIII” ra đời năm 1888 của các nhà khoa học thuộc Vườn Thực vật Missouri, mô tả chi Lonicera L. có 34 loài, trong số đó có những loài cũng có ở Việt Nam như Lonicera japonica Thunb. Ba năm sau, năm 1891, trong cuốn “The Journal of the Linnean Society”, vol. XXVIII, các nhà khoa học thuộc Vườn Thực vật Missouri bổ sung loài L.

thuộc chi Lonicera L. Đáng chú ý là loài L. được tìm thấy ở độ cao khoảng 5000 feet. Điều đặc biệt là các nhà Thực vật học mới chỉ thấy 1 cây của loài này.

Hoa của loài này cũng đã được so sánh với các loài hiện có và thấy rằng nó có kích thước lớn nhất [40]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1992, trong cuốn "Vascular Plant families and genera" của tác giả Brummit cũng chỉ đề cập chi Lonicera L. là chi lớn nhất trong họ Caprifoliaceae với khoảng 180 loài [27]. Trong cuốn“Flowering plants of the world” năm 1993, V.Heywood mô tả chi Lonicera L.

có khoảng 200 loài, phần lớn là các cây bụi nhỏ và cây leo [44]. Năm 1997, trong công trình “Diversity and Classification of Flowering plants” Armen Takhtajan đã đưa ra quan điểm xếp chi Lonicera trong hệ thống phân loại thực vật của ông như sau: Class: Magnoliopsida Subclass I: Cornidae Superorder: Dipsacanae Order I: Virburnales Family: Viburnaceae Order II: Family: 1. Adoxaceae Order III: Family: Dipsacales 1. Morinaceae Trong họ Caprifoliaceae lại chia ra các phân họ: + Diervilleae: gồm các chi Weigela, Diervilla.

+ Lonicereae: gồm các chi Leycesteria, Lonicera + Triostomeae: gồm các chi Triosteum 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Linnaeeae: gồm các chi Symphoricapos, Linnaea, Dipelta, Heptacodium, Kolkwitzia, Abelia, Zabelia [22]. Trong “Flowering Plants”, Năm 2009, tái bản lần thứ II có sửa chữa, của Tác giả A. Takhtajan vẫn theo quan điểm của các nhà Thực vật học đi trước, đặc biệt là việc ra đời hệ thống phân loại của A. Takhtajan đặt tên họ Caprifoliaceae trên cơ sở hợp nhất 3 họ Diervillaceae Pyck 1998; Linnaeaceae Backlund 1998 và Loniceraceae Vest 1818 với tổng số gồm 275- 300 loài của 12 chi [23,24,25].

Mặc dù vậy, Ông có đôi chút thay đổi trong quan điểm của mình về hệ thống phân loại họ Caprifoliaceae, khi vẫn chia họ này ra thành các phân họ, tuy nhiên các chi thuộc mỗi phân họ có sự thay đổi. Cụ thể như sau: + Diervilleae: Weigela, Diervilla + Lonicereae: Leycesteria, Lonicera, Heptacodium, Symphoricarpos +Triostomeae: Triosteum + Linnaeeae: Linnaea, Dipelta, Kolkwitzia, Abelia, Zabelia. Sự thay đổi đó là ông xếp chi Heptacodium và Symphoricarpos từ phân họ Linnaeeae sang phân họ Lonicereae. Trong đó tiêu chí để phân ra chi Lonicera là tập hợp những loài có đặc điểm chung như sau: Bầu hạ, vòi nhụy dài, chủ yếu với một đầu nhụy hình đầu.

Chủ yếu là cây thân gỗ, hiếm khi thân thảo. Dạng cây chủ yếu là cây bụi hoặc cây leo gỗ. Trong “Pollen flora of Pakistan-LV. Caprifoliaceae” năm 2007 của tác giả Anjumperveen và Muhammad Qaiser mô tả chi Lonicera L.

có 10 loài, không thấy có loài nào trùng với các loài có ở Việt Nam. Trong hệ thống phân loại của APG III năm (2009), Bộ Dipsacales gồm có các họ sau: - Adoxaceae gồm có các chi Adoxa, Moschatellina, Sambucus, Sinadoxa, Tetradoxa, Virbunum. - Diervillaceae 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Caprifoliaceae gồm có các chi Heptacodium, Leycesteria, Lonicera, Symphoricarpos, Triosteum. Trong đó chi Lonicera có 180 loài.

- Linnaeaceae - Morinaceae - Dipsacaceae - Valerianaceae Có thể nói, trong thế kỉ XVIII, XIX là thời kì bắt đầu và phát triển rất mạnh của Thực vật học, có rất nhiều quan điểm, nhiều trường phái khác nhau trong việc xếp chi Lonicera vào họ nào, phân họ nào, ngay cả họ Caprifoliaceae có những phân họ nào cũng có những sự khác nhau rất rõ rệt. Nhưng theo quan điểm của đa số các nhà thực vật học nổi tiếng trên thế giới thì vẫn ủng hộ quan điểm của Linnaeus và Jussieu đó là xếp chi Lonicera nằm trong họ Caprifoliaceae. Chúng tôi lựa chọn hệ thống phân loại của A.Takhtajan năm 1997 để làm cơ sở nghiên cứu phân loại các loài thuộc chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae ở Việt Nam. Đây cũng là hệ thống phân loại được các Trường đại học, Viện nghiên cứu, các nhà thực vật học ở Việt Nam lựa chọn và sử dụng trong việc phân loại họ Caprifoliaceae, cũng như cho toàn bộ hê thực vật ở nước ta.

Kết quả nghiên cứu phân loại chi Lonicera ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ Theo một số tài liệu đã công bố, chi Lonicera L. trên thế giới có khoảng hơn 200 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực ôn đới và vùng núi cao của Bắc bán cầu. Trong Flora of China, vol. 19 mô tả chi Lonicera L.

có khoảng 180 loài, phân bố ở Nam Phi, Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ. Ở Trung Quốc có 57 loài, trong đó có 23 loài là đặc hữu của quốc gia này [46]. Trong Thực vật chí Pakistan có đề cập chi Lonicera L. có 20 loài, trong đó có 18 loài là loài bản địa của Pakistan, còn 2 loài là do du nhập về trồng.

Trong số các loài có mặt ở Pakistan thì có tới 14 loài có hình vẽ kèm theo, tuy nhiên cũng chưa có khóa phân loại cho các loài và chưa mô tả về khu vực phân bố [42]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong Thực vật chí Missouri đề cập chi Lonicera L. có 11 loài, tuy nhiên không có bản mô tả về khóa phân loại và khu vực phân bố [33]. Trong Thực vật chí Taiwan, chi Lonicera L.

có 7 loài, có khóa phân loại và hình vẽ mô tả nhưng chưa nói rõ khu vực phân bố [43]. Trong thực vật chí Trung Quốc, khóa phân loại cho các loài thuộc chi Lonicera, trong đó có 7 loài cũng có ở Việt Nam là Lonicera calcarata, L. Khóa phân loại này dựa trên các đặc điểm đặc trưng của các loài và khá dễ dàng thực hiện. Chính vì vậy, khóa phân loại này được áp dụng để phân loại cho các loài hiện có ở Việt Nam.

Như trên đã đề cập, mặc dù có vài quan điểm khác nhau trong việc xếp đặt vị trí của chi, song về cơ bản các tác giả khi nghiên cứu phân loại chi Lonicera đều thống nhất mô tả đặc điểm chung của chi Lonicera, họ Caprifoliaceae như sau: Cây bụi đứng hay bụi trườn, đôi khi là dạng leo; rụng lá hoặc thường xanh. Cành rỗng với lõi màu trắng hoặc nâu; có chồi ngủ mùa đông, với 1 hoặc vài cặp lá vảy. Lá mọc đối, hiếm khi mọc vòng, nguyên, hiếm khi xẻ răng cưa, lá kèm ở giữa cuống lá vắng hoặc hiếm khi phát triển tốt. Cụm hoa dạng chùy, mọc ở nách lá hoặc đầu cành, dày đặc hoặc thưa thớt, cụm hoa dạng xim 1 -, 2 - , hoặc 3 hoa.

Cụm hoa dạng xim đôi khi có cuống; hoặc không cuống, đôi khi hình thành cụm hoa dạng đầu. Đài hoa 5 thùy. Cánh hoa màu trắng, màu vàng, đỏ, tím đỏ, thường xuyên thay đổi màu sắc sau khi nở hoa, hình chuông, được mở rộng dần dần, 5 thùy, cánh hoa chẻ đôi và trên 4 thùy; ống dài hay ngắn. Nhị hoa 5, bao phấn đính lưng.

Buồng trứng 2 hoặc 3 (-5) ngăn; có lông hoặc nhẵn. Trái cây mọng, màu đỏ, đen, hoặc màu xanh, đôi khi có phủ phấn trắng, thỉnh thoảng còn giữ lại lá bắc con cùng với quả. Hạt từ 1 đến rất nhiều [1,2,6,7,13,46]. Lonicera là chi lớn nhất trong họ Cơm cháy (Caprifoliaceae), với khoảng 180 - 200 loài, phân bố ở Nam Phi, Châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ [48].

Nghiên cứu phân loại và sự phân bố của các đại diện thuộc chi Lonicera L. ở Việt Nam 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nghiên cứu phân loại Ở Việt Nam, người đầu tiên đề cập tới phân loại chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae là H. Lecomte, trong tập 3 “Flora ge′nerale de L’indo-chine”, năm 1922-1923.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ