Chương 1 TỔNG QUAN 1. Phân loại chi Lonicera L. trên thế giới và một số vấn đề khác có liên quan. Một vài quan điểm phân loại chi Lonicera và họ Caprifoliaceae Trong bộ“Species plantarium” năm 1753, Carl Von Linnaeus đã đề cập Danh pháp loài thực vật gồm 2 từ ghép của tên chi và từ tính ngữ chỉ loài.
Đồng thời cũng trong tài liệu này, lần đầu tiên C. Von Linnaeus đã đặt tên chi Lonicera, gồm 15 loài và được xếp vào họ Caprifoliaceae [37]. Năm 1760, trong tạp chí “ Definitiones Generum Plantarum”, tác giả Boehmer, Georg Rudolf cũng đặt tên chi là Lonicera Boehm., nhưng lại xếp chi này vào họ Loranthraceae [28]. Năm 1763, trong tập 2 “Familles naturelles des Plantes”, Adanson và Michel xếp chi Lonicera vào họ Rubiaceae, bởi các đặc điểm lá mọc đối, có lá kèm, bầu hạ [5].
Đến năm 1818, Trong “Anleittung zum Gründlichen Studien der Botanik”, Vest, Lorenz Chrysanth von lại nâng chi Lonicera L. lên thành họ Loniceraceae và trong đó vẫn giữ lại chi Lonicera L. Gần chục năm sau (1827), trong “Systema vegetabilium” Vol. IV”, Carol Linniei đã căn cứ vào các đặc điểm cơ bản, như tràng liền, nhiều hạt …để quay trở lại quan điểm lập Lonicera L.
là một chi riêng và Ông cũng mô tả có 16 loài [29]. Trong đó, loài Lonicera japonica Thunb. cũng có ở Việt Nam. Trong cuốn “Genera plantarum secundum ordines naturals disposita” năm 1789, A.
de Jussieu dựa trên các đặc điểm tương đồng giữa 3 họ là Diervillaceae, Linnaeaceae, Loniceraceae nên đã gộp 3 họ này vào thành một họ là Caprifoliaceae [17]. Quan điểm này được các nhà Thực vật học sau này ủng hộ và cũng giữ nguyên quan điểm này trong các công trình ra đời sau đó, kể cả sau này Takhtajan, nhà thực vật học lỗi lạc của Nga cũng vậy. de Jussieu xếp các chi trong họ Caprifoliaceae dựa vào những đặc điểm chính như sau: (.) Ống đài hoa dạng cốc ở phần ngực hoa. Gồm có các chi: Linnaea L., Symphoricarpos, Diervilla, Xylosteon, Caprifolium, Lonicera.
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.) Ống đài hoa dạng cốc ở phần ngực hoa. Tràng hoa nhiều, rời gồm các chi như sau: Loranthus, Lonicera, Viscum, Rhizophora L.) Đài hình mũi mác, tràng liền đơn. Gồm có các chi như sau: Viburnum, Hortensia, Sambucus.) Đài phức tạp, có vòi nhụy rõ rệt. Tràng hoa nhiều, rời.
Gồm có các chi như sau: Cornus, Hedera. Từ 1824 đến 1841, Augustin Pyramus de Candolle cho ra series công trình mang tên “Prodromus systematis naturalis regni vegetabilis”, tác giả mô tả chi Lonicera có 54 loài, trong đó có 3 loài sau này cũng biết có ở Việt Nam, như Lonicera macrantha, L. Trong cuốn “Annales Musei Botanici Lugduno-Batavi”, năm 1863, tác giả Rijksherbarium để chi Lonicera thuộc họ Lonicereae. Các loài trong chi Lonicera được đề cập là 10 loài, trong đó cũng có 3 loài sau này biết có ở Việt Nam là Lonicera japonica, Lonicera cofusa, L.
Năm 1865, Trong cuốn sách “Annales Musei Botanici”, tác giả F. Miguel xếp chi Lonicera L. vào họ Lonicereaceae gồm có 10 loài, trong đó có loài L. là thấy có ở Việt Nam [30].
Công trình “The Journal of the Linnean Society, vol XXIII” ra đời năm 1888 của các nhà khoa học thuộc Vườn Thực vật Missouri, mô tả chi Lonicera L. có 34 loài, trong số đó có những loài cũng có ở Việt Nam như Lonicera japonica Thunb. Ba năm sau, năm 1891, trong cuốn “The Journal of the Linnean Society”, vol. XXVIII, các nhà khoa học thuộc Vườn Thực vật Missouri bổ sung loài L.
thuộc chi Lonicera L. Đáng chú ý là loài L. được tìm thấy ở độ cao khoảng 5000 feet. Điều đặc biệt là các nhà Thực vật học mới chỉ thấy 1 cây của loài này.
Hoa của loài này cũng đã được so sánh với các loài hiện có và thấy rằng nó có kích thước lớn nhất [40]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1992, trong cuốn "Vascular Plant families and genera" của tác giả Brummit cũng chỉ đề cập chi Lonicera L. là chi lớn nhất trong họ Caprifoliaceae với khoảng 180 loài [27]. Trong cuốn“Flowering plants of the world” năm 1993, V.Heywood mô tả chi Lonicera L.
có khoảng 200 loài, phần lớn là các cây bụi nhỏ và cây leo [44]. Năm 1997, trong công trình “Diversity and Classification of Flowering plants” Armen Takhtajan đã đưa ra quan điểm xếp chi Lonicera trong hệ thống phân loại thực vật của ông như sau: Class: Magnoliopsida Subclass I: Cornidae Superorder: Dipsacanae Order I: Virburnales Family: Viburnaceae Order II: Family: 1. Adoxaceae Order III: Family: Dipsacales 1. Morinaceae Trong họ Caprifoliaceae lại chia ra các phân họ: + Diervilleae: gồm các chi Weigela, Diervilla.
+ Lonicereae: gồm các chi Leycesteria, Lonicera + Triostomeae: gồm các chi Triosteum 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Linnaeeae: gồm các chi Symphoricapos, Linnaea, Dipelta, Heptacodium, Kolkwitzia, Abelia, Zabelia [22]. Trong “Flowering Plants”, Năm 2009, tái bản lần thứ II có sửa chữa, của Tác giả A. Takhtajan vẫn theo quan điểm của các nhà Thực vật học đi trước, đặc biệt là việc ra đời hệ thống phân loại của A. Takhtajan đặt tên họ Caprifoliaceae trên cơ sở hợp nhất 3 họ Diervillaceae Pyck 1998; Linnaeaceae Backlund 1998 và Loniceraceae Vest 1818 với tổng số gồm 275- 300 loài của 12 chi [23,24,25].
Mặc dù vậy, Ông có đôi chút thay đổi trong quan điểm của mình về hệ thống phân loại họ Caprifoliaceae, khi vẫn chia họ này ra thành các phân họ, tuy nhiên các chi thuộc mỗi phân họ có sự thay đổi. Cụ thể như sau: + Diervilleae: Weigela, Diervilla + Lonicereae: Leycesteria, Lonicera, Heptacodium, Symphoricarpos +Triostomeae: Triosteum + Linnaeeae: Linnaea, Dipelta, Kolkwitzia, Abelia, Zabelia. Sự thay đổi đó là ông xếp chi Heptacodium và Symphoricarpos từ phân họ Linnaeeae sang phân họ Lonicereae. Trong đó tiêu chí để phân ra chi Lonicera là tập hợp những loài có đặc điểm chung như sau: Bầu hạ, vòi nhụy dài, chủ yếu với một đầu nhụy hình đầu.
Chủ yếu là cây thân gỗ, hiếm khi thân thảo. Dạng cây chủ yếu là cây bụi hoặc cây leo gỗ. Trong “Pollen flora of Pakistan-LV. Caprifoliaceae” năm 2007 của tác giả Anjumperveen và Muhammad Qaiser mô tả chi Lonicera L.
có 10 loài, không thấy có loài nào trùng với các loài có ở Việt Nam. Trong hệ thống phân loại của APG III năm (2009), Bộ Dipsacales gồm có các họ sau: - Adoxaceae gồm có các chi Adoxa, Moschatellina, Sambucus, Sinadoxa, Tetradoxa, Virbunum. - Diervillaceae 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Caprifoliaceae gồm có các chi Heptacodium, Leycesteria, Lonicera, Symphoricarpos, Triosteum. Trong đó chi Lonicera có 180 loài.
- Linnaeaceae - Morinaceae - Dipsacaceae - Valerianaceae Có thể nói, trong thế kỉ XVIII, XIX là thời kì bắt đầu và phát triển rất mạnh của Thực vật học, có rất nhiều quan điểm, nhiều trường phái khác nhau trong việc xếp chi Lonicera vào họ nào, phân họ nào, ngay cả họ Caprifoliaceae có những phân họ nào cũng có những sự khác nhau rất rõ rệt. Nhưng theo quan điểm của đa số các nhà thực vật học nổi tiếng trên thế giới thì vẫn ủng hộ quan điểm của Linnaeus và Jussieu đó là xếp chi Lonicera nằm trong họ Caprifoliaceae. Chúng tôi lựa chọn hệ thống phân loại của A.Takhtajan năm 1997 để làm cơ sở nghiên cứu phân loại các loài thuộc chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae ở Việt Nam. Đây cũng là hệ thống phân loại được các Trường đại học, Viện nghiên cứu, các nhà thực vật học ở Việt Nam lựa chọn và sử dụng trong việc phân loại họ Caprifoliaceae, cũng như cho toàn bộ hê thực vật ở nước ta.
Kết quả nghiên cứu phân loại chi Lonicera ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ Theo một số tài liệu đã công bố, chi Lonicera L. trên thế giới có khoảng hơn 200 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực ôn đới và vùng núi cao của Bắc bán cầu. Trong Flora of China, vol. 19 mô tả chi Lonicera L.
có khoảng 180 loài, phân bố ở Nam Phi, Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ. Ở Trung Quốc có 57 loài, trong đó có 23 loài là đặc hữu của quốc gia này [46]. Trong Thực vật chí Pakistan có đề cập chi Lonicera L. có 20 loài, trong đó có 18 loài là loài bản địa của Pakistan, còn 2 loài là do du nhập về trồng.
Trong số các loài có mặt ở Pakistan thì có tới 14 loài có hình vẽ kèm theo, tuy nhiên cũng chưa có khóa phân loại cho các loài và chưa mô tả về khu vực phân bố [42]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong Thực vật chí Missouri đề cập chi Lonicera L. có 11 loài, tuy nhiên không có bản mô tả về khóa phân loại và khu vực phân bố [33]. Trong Thực vật chí Taiwan, chi Lonicera L.
có 7 loài, có khóa phân loại và hình vẽ mô tả nhưng chưa nói rõ khu vực phân bố [43]. Trong thực vật chí Trung Quốc, khóa phân loại cho các loài thuộc chi Lonicera, trong đó có 7 loài cũng có ở Việt Nam là Lonicera calcarata, L. Khóa phân loại này dựa trên các đặc điểm đặc trưng của các loài và khá dễ dàng thực hiện. Chính vì vậy, khóa phân loại này được áp dụng để phân loại cho các loài hiện có ở Việt Nam.
Như trên đã đề cập, mặc dù có vài quan điểm khác nhau trong việc xếp đặt vị trí của chi, song về cơ bản các tác giả khi nghiên cứu phân loại chi Lonicera đều thống nhất mô tả đặc điểm chung của chi Lonicera, họ Caprifoliaceae như sau: Cây bụi đứng hay bụi trườn, đôi khi là dạng leo; rụng lá hoặc thường xanh. Cành rỗng với lõi màu trắng hoặc nâu; có chồi ngủ mùa đông, với 1 hoặc vài cặp lá vảy. Lá mọc đối, hiếm khi mọc vòng, nguyên, hiếm khi xẻ răng cưa, lá kèm ở giữa cuống lá vắng hoặc hiếm khi phát triển tốt. Cụm hoa dạng chùy, mọc ở nách lá hoặc đầu cành, dày đặc hoặc thưa thớt, cụm hoa dạng xim 1 -, 2 - , hoặc 3 hoa.
Cụm hoa dạng xim đôi khi có cuống; hoặc không cuống, đôi khi hình thành cụm hoa dạng đầu. Đài hoa 5 thùy. Cánh hoa màu trắng, màu vàng, đỏ, tím đỏ, thường xuyên thay đổi màu sắc sau khi nở hoa, hình chuông, được mở rộng dần dần, 5 thùy, cánh hoa chẻ đôi và trên 4 thùy; ống dài hay ngắn. Nhị hoa 5, bao phấn đính lưng.
Buồng trứng 2 hoặc 3 (-5) ngăn; có lông hoặc nhẵn. Trái cây mọng, màu đỏ, đen, hoặc màu xanh, đôi khi có phủ phấn trắng, thỉnh thoảng còn giữ lại lá bắc con cùng với quả. Hạt từ 1 đến rất nhiều [1,2,6,7,13,46]. Lonicera là chi lớn nhất trong họ Cơm cháy (Caprifoliaceae), với khoảng 180 - 200 loài, phân bố ở Nam Phi, Châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ [48].
Nghiên cứu phân loại và sự phân bố của các đại diện thuộc chi Lonicera L. ở Việt Nam 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nghiên cứu phân loại Ở Việt Nam, người đầu tiên đề cập tới phân loại chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae là H. Lecomte, trong tập 3 “Flora ge′nerale de L’indo-chine”, năm 1922-1923.