Luận văn thạc sĩ phân lập và biểu hiện gen mã hóa protein vỏ p10 của virus gây bệnh lúa lùn sọc đen ở việt nam luận văn ths sinh học thực nghiệm 60 42 01 14

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phân lập và biểu hiện gen protein vỏ p10 của virus lúa lùn sọc đen tại Việt Nam, góp phần vào sinh học thực nghiệm.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2014

91
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VIRUS HẠI LÚA

1.2. BỆNH LÚA LÙN SỌC ĐEN VÀ VIRUS SRBSDV

1.3. ĐẶC ĐIỂM ĐOẠN GEN P10 VÀ PROTEIN VỎ NGOÀI SRBSDV

1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VÀ PHÁT HIỆN SRBSDV

1.4.1. KHÁNG THỂ ĐA DÒNG VÀ ỨNG DỤNG THỰC TIỄN

1.4.1.1. Giới thiệu chung về kháng thể đa dòng
1.4.1.2. Một số ứng dụng của kháng thể đa dòng

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. VẬT LIỆU VÀ HÓA CHẤT

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Nhân bản đoạn DNA đặc hiệu bằng kỹ thuật PCR

2.2.2. Điện di DNA trên gel agarose

2.2.3. Ghép nối DNA bằng enzyme DNA ligase

2.2.4. Biến nạp vi khuẩn E. coli và chuẩn bị dịch chiết tế bào

2.2.5. Tách chiết DNA plasmid từ tế bào vi khuẩn

2.2.6. Tinh sạch DNA từ gel agarose

2.2.7. Nhân dòng sản phẩm PCR

2.2.8. Phản ứng cắt DNA bằng enzyme cắt giới hạn

2.2.9. Giải trình tự nucleotide các đoạn DNA

2.2.10. Điện di protein trên gel polyacrylamide có chứa SDS

2.2.11. Tinh sạch protein tái tổ hợp qua cột Ni2+ agarose

2.2.12. Định lượng protein bằng cách đo độ hấp thụ ánh sáng vùng tử ngoại (A280)

2.2.13. Gây kháng thể đa dòng trên chuột bạch

2.2.14. Phương pháp thẩm tách miễn dịch (Western blotting)

2.2.15. Tinh sạch kháng thể IgG bằng cột sắc kí protein A-sepharose

2.2.16. Phương pháp Dot Blot

2.2.17. Phương pháp ELISA

2.2.18. Nhân dòng đoạn gen P10 từ cDNA của phân đoạn S10

2.2.18.1. Nhân bản đoạn gen P10 bằng phản ứng PCR
2.2.18.2. Ghép nối đoạn gen P10 vào vector pGEMT
2.2.18.3. PCR kiểm tra sự có mặt của plasmid tái tổ hợp
2.2.18.4. Kiểm tra plasmid tái tổ hợp pGEMT mang đoạn gen P10
2.2.18.5. Giải trình tự đoạn gen P10 của chủng SRBSDV

2.2.19. Biểu hiện và tinh sạch protein tái tổ hợp P10

2.2.19.1. Thiết kế vector biểu hiện pET28a mang đoạn gen P10
2.2.19.2. Biểu hiện và tinh sạch protein tái tổ hợp P10

2.2.20. Gây kháng thể đa dòng kháng protein P10

2.2.20.1. Gây đáp ứng miễn dịch trên chuột bạch

2.2.21. Phát hiện virus SRBSDV bằng kháng thể tinh sạch

2.2.21.1. Đánh giá độ nhạy của kháng thể
2.2.21.2. Phát hiện SRBSDV bằng kĩ thuật ELISA

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI CẢM ƠN

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân lập gen protein vỏ P10 virus lúa lùn sọc đen

Virus lúa lùn sọc đen (SRBSDV) là một trong những tác nhân gây hại nghiêm trọng cho cây lúa tại Việt Nam. Việc phân lập gen P10, mã hóa protein vỏ của virus này, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các phương pháp chẩn đoán nhanh và hiệu quả. Gen P10 có kích thước nhỏ và độ bảo thủ cao, thường được sử dụng trong các nghiên cứu phát hiện virus thuộc chi Fijivirus. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc gen mà còn mở ra hướng đi mới trong việc kiểm soát dịch bệnh lúa.

1.1. Đặc điểm của virus lúa lùn sọc đen và gen P10

Virus lúa lùn sọc đen (SRBSDV) thuộc họ Reoviridae, có hệ gen dài 29.124 bp với 10 phân đoạn RNA. Phân đoạn S10, mã hóa protein vỏ P10, có kích thước nhỏ nhất và thường được chọn để nghiên cứu. Đặc điểm này giúp cho việc phát hiện virus trở nên dễ dàng hơn, đặc biệt trong điều kiện thực địa.

1.2. Tầm quan trọng của việc phân lập gen P10

Phân lập gen P10 không chỉ giúp xác định sự hiện diện của virus mà còn hỗ trợ trong việc phát triển các bộ kit chẩn đoán nhanh. Điều này rất cần thiết trong bối cảnh dịch bệnh lúa lùn sọc đen đang gia tăng, ảnh hưởng đến sản lượng lúa gạo tại Việt Nam.

II. Thách thức trong việc nghiên cứu virus lúa lùn sọc đen

Nghiên cứu virus lúa lùn sọc đen gặp nhiều thách thức, từ việc xác định chính xác tác nhân gây bệnh đến việc phát triển các phương pháp chẩn đoán hiệu quả. Sự phức tạp trong cấu trúc gen của virus và sự biến đổi gen liên tục làm cho việc phát hiện và kiểm soát dịch bệnh trở nên khó khăn hơn. Ngoài ra, việc thiếu các phương pháp chẩn đoán nhanh và chính xác cũng là một vấn đề lớn trong việc quản lý dịch bệnh.

2.1. Khó khăn trong việc phát hiện virus

Phương pháp RT-PCR hiện tại yêu cầu kỹ thuật cao và chi phí tốn kém, không thuận tiện cho việc áp dụng ngoài đồng ruộng. Điều này dẫn đến việc chẩn đoán bệnh lúa lùn sọc đen trở nên chậm trễ và khó khăn.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến dịch bệnh

Biến đổi khí hậu làm thay đổi môi trường sống của côn trùng truyền bệnh, dẫn đến sự gia tăng tần suất và mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh. Điều này đặt ra thách thức lớn cho ngành nông nghiệp trong việc kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh.

III. Phương pháp phân lập gen P10 hiệu quả

Để phân lập gen P10, các phương pháp sinh học phân tử như PCR, điện di DNA và ghép nối DNA được sử dụng. Những kỹ thuật này cho phép nhân bản và xác định sự hiện diện của gen P10 trong mẫu bệnh. Việc áp dụng các phương pháp này không chỉ giúp tăng cường khả năng phát hiện virus mà còn hỗ trợ trong việc nghiên cứu cấu trúc gen và protein của virus.

3.1. Kỹ thuật PCR trong phân lập gen P10

Kỹ thuật PCR cho phép nhân bản đoạn gen P10 từ mẫu cDNA, giúp tăng cường khả năng phát hiện virus. Việc sử dụng các cặp mồi đặc hiệu giúp đảm bảo độ chính xác trong quá trình phân lập.

3.2. Điện di DNA và kiểm tra plasmid tái tổ hợp

Điện di DNA trên gel agarose giúp xác định kích thước và tính chất của sản phẩm PCR. Kiểm tra plasmid tái tổ hợp là bước quan trọng để đảm bảo rằng gen P10 đã được ghép nối thành công vào vector.

IV. Ứng dụng thực tiễn của gen P10 trong nông nghiệp

Việc phân lập và biểu hiện gen P10 không chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu mà còn có ứng dụng thực tiễn trong nông nghiệp. Các bộ kit chẩn đoán nhanh được phát triển từ gen P10 có thể giúp nông dân phát hiện sớm virus, từ đó có biện pháp phòng ngừa kịp thời. Điều này góp phần bảo vệ sản lượng lúa gạo và đảm bảo an ninh lương thực.

4.1. Phát triển bộ kit chẩn đoán nhanh

Bộ kit chẩn đoán nhanh dựa trên gen P10 giúp phát hiện virus lúa lùn sọc đen một cách hiệu quả. Điều này giúp nông dân có thể phát hiện bệnh sớm và có biện pháp xử lý kịp thời.

4.2. Tác động đến sản xuất lúa gạo

Việc phát hiện sớm virus giúp giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh, từ đó bảo vệ sản lượng lúa gạo. Điều này không chỉ có lợi cho nông dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu gen P10

Nghiên cứu và phân lập gen P10 của virus lúa lùn sọc đen là một bước tiến quan trọng trong việc phát triển các phương pháp chẩn đoán nhanh và hiệu quả. Những kết quả đạt được từ nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về virus mà còn mở ra hướng đi mới trong việc kiểm soát dịch bệnh. Triển vọng trong tương lai là phát triển các giống lúa kháng virus và các phương pháp phòng ngừa hiệu quả hơn.

5.1. Hướng đi mới trong nghiên cứu virus

Nghiên cứu gen P10 mở ra cơ hội cho việc phát triển các phương pháp chẩn đoán và phòng ngừa virus hiệu quả hơn. Điều này rất cần thiết trong bối cảnh dịch bệnh ngày càng phức tạp.

5.2. Tương lai của ngành nông nghiệp Việt Nam

Việc áp dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực tiễn sẽ giúp ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững, đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao đời sống nông dân.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lƣơng thực lâu đời nhất và cũng là cây ngũ cốc quan trọng cung cấp nguồn lƣơng thực cho khoảng 2/3 dân số thế giới. Ở nƣớc ta, cây lúa đã trở thành cây lƣơng thực chủ lực liên quan đến việc làm và thu nhập của khoảng 80% số hộ nông dân. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngành trồng lúa đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhất là thiên tai, biến đổi khí hậu, đặc biệt là dịch bệnh xảy ra thƣờng xuyên đã ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa gạo. Do các đặc điểm về địa lý và khí hậu, Việt Nam là giao lộ các luồng di chuyển của nhiều loại côn trùng, trung gian truyền dịch; do đó các bệnh virus có diễn biến rất phức tạp, lây lan nhanh chóng và gây thiệt hại lớn.

Vào cuối tháng 8/2009, tại Nghệ An, bệnh lúa lùn sọc đen (LSĐ) đã bùng phát với diện tích nhiễm bệnh lên tới 5.506 ha, trong đó gần 3.510 ha bị mất trắng. Đến tháng 10/2010 bệnh đã phát triển và gây hại tại 28 tỉnh miền Bắc và Trung với tổng diện tích nhiễm bệnh lên tới 24. Bằng phƣơng pháp sinh học phân tử, bƣớc đầu nguyên nhân gây bệnh lạ nêu trên đã đƣợc xác định là do virus lúa lùn sọc đen phƣơng Nam (Southern rice black strike dwarf virus - SRBSDV). Đây là một thành viên mới của phân nhóm Fijivirus – 2, thuộc họ Reoviridae.

Hệ gen của SRBSDV có chiều dài 29.124 bp, gồm 10 phân đoạn RNA sợi đôi, có kích thƣớc từ 1,8 đến 4,5 kb và đƣợc đặt tên theo thứ tự tƣ̀ S1 đến S10 dựa vào kích thƣớc phân đoạn RNA sợi đôi. Phân đoạn S10 có kích thƣớc nhỏ nhất, mã hóa một protein vỏ ngoài virus và có độ bảo thủ cao nên thƣờng đƣợc chọn trong các nghiên cứu nhằm phát hiện các virus trong chi Fijivirus. Việc chẩn đoán cây bị nhiễm SRBSDV hiện nay đều đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp RT-PCR nhằm phát hiện phân đoạn RNA sợi đôi của virus có trong mẫu bệnh cây. Tuy nhiên, phƣơng pháp này đòi hỏi kỹ thuật cao, chi phí tốn kém đồng thời không thuận tiện cho việc tiến hành với điều kiện ngoài đồng ruộng.

Việc xác định tác nhân gây bệnh mất nhiều thời gian, chi phí cao đã dẫn tới khó khăn 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong việc ngăn chặn và kiểm soát dịch bệnh làm thiệt hại nhiều hecta sản lƣợng lƣơng thực. Vì vậy, việc sớm tìm ra phƣơng pháp chẩn đoán nhanh bệnh là việc làm vô cùng quan trọng và cấp bách hiện nay. Với mục đích biể u hiê ̣n đoa ̣n gen P10 mã hoá protein vỏ virus làm tiề n đề cho viê ̣c phát triể n kit chẩ n đoán nhanh , chính xác bệnh lúa lùn sọc đen phƣơng Nam dƣ̣a trên phƣơng pháp ELISA , chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Phân lâ ̣p và biể u hiêṇ gen mã hoá protein vỏ P10 của virus gây bệnh lúa lùn so ̣c đen ở Việt Nam” nhằm phục vụ công tác chẩn đoán sớm bê ̣nh ha ̣i trên đồ ng ruô ̣ng. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1- TỔNG QUAN 1.

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VIRUS HẠI LÚA Virus là một trong những tác nhân gây bệnh nguy hiểm nhất và là nguyên nhân chính làm giảm sản lƣợng nông nghiệp, dẫn đến sản lƣợng nông nghiệp không ổn định và gây ra tình trạng mất an ninh lƣơng thực. Đặc biệt trong bối cảnh thay đổi khí hậu toàn cầu, cân bằng sinh thái bị phá vỡ do việc canh tác quá phụ thuộc vào thuốc hóa học đã làm cho diễn biến phát sinh dịch và mức độ gây hại của các bệnh virus càng trở nên nguy hiểm và phức tạp hơn lúc nào hết. Trong sản xuất nông nghiệp có khoảng hơn 1000 loài virus gây hại cho thực vật và các loại cây nông nghiệp nhƣ cây ngô, đậu tƣơng… và khoảng 16 loại virus gây hại cho lúa (phụ lục 1). Trong số các virus hại lúa, ngoài Rice hoja blanca virus (một ternuivirus, phân bố tại Nam Mỹ), Rice giallume virus (một luteovirus, phân bố tại châu Âu) và Rice stripe necrosis virus (một furovirus, phân bố tại châu Phi) thì 13 virus còn lại đều phát hiện thấy tại các nƣớc trồng lúa châu Á.

Tuy nhiên, chỉ có 5 bệnh virus gây hại nghiệm trọng và phổ biến trên lúa là: bệnh vàng lùn (bệnh lúa cỏ), bệnh lúa lùn xoắn lá, bệnh Tungro, bệnh lúa sần lùn, bệnh vàng lá tạm thời [7, 11-13, 16]. Nghề trồng lúa ở Việt Nam đã và đang phải đối mặt với các đợt dịch bệnh virus diễn ra liên tiếp và đang diễn biến rất phức tạp. Trong khi dịch virus vàng lùn và lùn xoắn lá ở miền Nam chƣa kết thúc thì các tỉnh miền Bắc và miền Trung đang phải đối mặt với dịch SRBSDV. Vì vậy, định hƣớng nghiên cứu bệnh virus hại lúa trong giai đoạn hiện nay cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa nghiên cứu đối ứng và nghiên cứu dài hơi.

Nghiên cứu đối ứng tập trung vào khâu chỉ đạo sản xuất và phát hiện nhanh tác nhân gây bệnh từ đó xây dựng các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Trong khi đó , nghiên cứu dài hơi tập trung vào khâu xác định bản chất hệ gen, mức độ đa dạng di truyền, tính độc và mức độ đột biến để xác định danh tính tác nhân gây bệnh, hoàn thiện các quy trình chẩn đoán chính xác, nguy cơ phát sinh chủng mới và tiến tới các biện pháp phòng trừ hiệu quả tác nhân gây bệnh dựa trên công 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghệ gen. Các nghiên cứu về virus ở Việt Nam hiện mới tập trung ở khâu phát hiện sau đó áp dụng các biện pháp canh tác nhƣ nhổ bỏ cây bệnh, diệt môi giới truyền bệnh, trồng giống kháng rầy, luân canh… Gần đây, trƣớc tình hình gây h ại và diễn biến phát dịch bệnh virus rất phức tạp, Nhà nƣớc đã quan tâm nhiều đến việc đầu tƣ nghiên cứu và áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trên thế giới trong việc phát hiện và phòng chống bệnh virus lúa, vì vậy đã nâng cấp một bƣớc đáng kể năng lực trong nghiên cứu và phòng chống virus hại lúa ở Việt Nam. Một số cơ quan nghiên cứu nhƣ Viện Bảo vệ thực vật và Trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã hoàn thiện quy trình chẩn đoán dựa trên kháng huyết thanh, RT-PCR và đã sản xuất đƣợc kháng huyết thanh cho virus vàng lùn và lùn xoắn lá; đã thiết kế các cặp mồi đặc hiệu cho virus lúa cỏ (Rice grassy stunt virus-RGSV), lùn xoắn lá (Rice ragged stunt virus-RRSV), lùn sọc đen (Rice black streaked dwarf virus-RBSDV), lúa sọc (Rice stripe virus-RSV), tungro (Rice tungro spherical virus-RTSV) và lùn sọc đen phƣơng Nam (Southern rice black strike dwarf virus-SRBSDV).

Các nghiên cứu về quan hệ giữa virus vàng lùn và lùn xoắn lá với rầy nâu, các loại rầy (rầy nâu, rầy nâu nhỏ và rầy lƣng trắng) và biện pháp phòng trừ môi giới truyền bệnh và bệnh virus hại lúa cũng đã đƣợc nghiên cứu khá đầy đủ và bài bản tại Viện Bảo vệ thực vật. Các nghiên cứu về virus hại lúa tại Viện Di truyền và Viện Công nghệ Sinh học lại tập trung vào các nghiên cứu phân tử nhƣ giải trình tự gen, tạo giống chống chịu virus bằng công nghệ gen nhƣ công nghệ RNAi. Hiện Viện Di truyền đã đăng ký 14 trình tự gen của virus vàng lùn và lùn xoắn lá lúa trên Ngân hàng gen; đã xác định các gen quan trọng và các đoạn trình tự bảo thủ của các gen virus (không trùng lặp với trình tự gen của cây chủ); đã thiết kế các vector RNAi mang gen có khả năng làm bất hoạt virus và đã nhận đƣợc một số cây chuyển gen. Gần đây, trong một hợp tác nghiên cứu với Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia Nhật Bản, Viện Di truyền đã sản xuất đƣợc 7 bộ kit chẩn đoán 7 loại virus gây bệnh trên lúa dựa trên kháng huyết thanh bao gồm: virus lúa cỏ (RGSV), lùn xoắn lá (RRSV), lùn sọc đen (RBSDV), lúa sọc (RSV), tungro (Rice tungro spherical virus-RTSV), tungro (Rice tungro bacilliform virus RTBV), bệnh lúa lùn 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (Rice dwarf virus-RDV) và vết u lùn lúa (Rice gall dwarf virus-RGDV) với số lƣợng đủ cho hợp tác nghiên cứu và chẩn đoán.

Các tiến bộ trong nghiên cứu virus hại lúa ở Việt Nam trong thời gian qua là đáng ghi nhận nhƣng vẫn chƣa thể đáp ứng đƣợc với diễn biến phức tạp của dịch virus hiện nay, đặc biệt là SRBSDV. Vì vậy các nghiên cứu về virus hại lúa cần phải nâng lên một bƣớc, tập trung vào các nghiên cứu chuyên sâu mang tính chất dài hơi để giải quyết tận gốc căn nguyên nhƣ các nghiên cứu về bản chất phân tử, diễn biến phát dịch và các biện pháp kiểm soát dựa trên kỹ thuật phân tử nhƣ siêu biểu hiện gen, bất hoạt gen và đột biến. BỆNH LÚA LÙN SỌC ĐEN VÀ VIRUS SRBSDV 1. Bệnh lúa lùn sọc đen 1.

Tình hình bệnh trên thế giới Bệnh lúa LSĐ là bệnh do virus lúa lùn sọc đen (Rice black streaked dwarf virus-RBSDV) gây ra và đƣợc phát hiện lần đầu tiên ở Nhật Bản vào năm 1952 [27]. RBSDV đƣợc ghi nhận gây hại và gây thành dịch ở các nƣớc Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc. Đợt dịch bệnh đầu tiên ở Nhật bản đƣợc ghi nhận trên ngô vào những năm 1957 – 1961, rồi trên lúa và ngô những năm 1965 – 1967. Ở Trung Quốc dịch bệnh đã xảy ra vào năm 1963 và sau đó 1965 – 1967 trên lúa, ngô, lúa mì và đại mạch.

Tỷ lệ bệnh RBSDV đạt cao điểm vào các năm 1975 và 1976 [22]. Ngoài những đợt cao điểm phát triển của bệnh kể trên thì bệnh lúa LSĐ thƣờng chỉ xuất hiện cục bộ và rải rác với tỷ lệ nhiễm thấp ở cả 3 nƣớc. Tại cùng một khu vực bị bệnh thì RBSDV thƣờng gây hại nghiêm trọng trên ngô và ít nghiêm trọng hơn trên lúa cũng nhƣ các cây trồng khác. Một số nơi nhƣ Tohuku, phía bắc Nhật Bản, virus này chỉ gây hại trên ngô mà không gây hại trên lúa.

Chỉ có một vùng nhỏ ở Hokkaido, phía Bắc của Tohoku, RBSDV gây hại cả trên ngô và trên lúa nhƣng với tỷ lệ nhiễm thấp [18]. Tại Nhật Bản, các nhà nghiên cứu đã phát hiện có mối quan hệ chặt chẽ giữa sự tăng cao tỷ lệ nhiễm bệnh LSĐ với sự tăng mạnh của các diện tích gieo cấy lúa sớm. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm bệnh giảm mạnh sau năm 1968 và nguyên nhân chính 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là do sự sụt giảm đáng kể các diện tích gieo cấy lúa mì và đại mạch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ