Chương 1: Cuộc đời Phan Khôi và vấn đề tiếp xúc văn hóa Đông - Tây ở Việt Nam thời Pháp thuộc. Chương 2: Quan điểm của Phan Khôi về tiếp xúc văn hóa Đông - Tây ở Việt Nam trước năm 1945. Chương 3: Một số đóng góp về văn hóa của Phan Khôi trước năm 1945. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CUỘC ĐỜI PHAN KHÔI VÀ VẤN ĐỀ TIẾP XÚC VĂN HÓA ĐÔNG – TÂY Ở VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC 1.
Cuộc đời Phan Khôi Phan Khôi hiệu là Chương Dân, sinh ngày 6-10-1887 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông được sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc, và là trưởng nam trong gia đình. Ông được học chữ Nho một cách bài bản từ nhỏ. Dòng họ Phan của ông nổi tiếng với những người con ưu tú như chí sĩ Phan Thành Tài – nhân vật chủ chốt của phong trào Duy Tân ở Quảng Nam và Việt Nam Quang phục Hội ở miền Trung, bị thực dân Pháp bắt và xử trảm năm 1916; ba vị đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa như Phan Diêu, Phan Bôi (tức Huỳnh Hữu Nam) và Phan Thao.
Ông nội của Phan Khôi từng làm Án sát tỉnh Khánh Hòa dưới triều vua Tự Ðức, còn ông ngoại là Hoàng Diệu - Tổng đốc hai tỉnh Hà Nội và Ninh Bình. Thân sinh của Phan Khôi là Phan Trân. Phan Trân vốn sinh trưởng trong dòng dõi nho gia hiển đạt nên học giỏi và thi đỗ đại khoa. Khi ấy, do hoàn cảnh gia đình khó khăn: nhạc phụ tuẫn tiết vì tổ quốc, còn cha lại bị triều đình cách chức, nên Phan Trân đành ra làm Tri phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
Ông nghĩ rằng với đồng lương quan phủ có thể chu cấp cho cả gia đình hai bên trong cảnh khó khăn. Tuy nhiên, cha của Phan Khôi làm quan cũng chỉ ba năm. Sau đó, vì cãi nhau với viên Công sứ Pháp tỉnh Khánh Hòa nên ông cáo bệnh về hưu dạy học, lúc mới 38 tuổi. Phan Khôi chỉ có một người em gái (gia đình gọi là cô Ba), bà là vợ nhà văn Sở Cuồng Lê Dư và là mẹ của Hằng Phương (vợ của Vũ Ngọc Phan), Hằng Phân (vợ của Hoàng Văn Chí) và Hằng Huân (vợ của tướng Nguyễn Sơn).
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1913, Phan Khôi kết hôn với Lương Thị Tuệ, quê ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, con của Lương Thúc Kỳ. Ông Lương Thúc Kỳ đỗ cử nhân năm 1900, làm quan tại Huế, sau dạy trường Dục Thanh (ngôi trường đầu tiên của phong trào Duy Tân, mở năm 1905 ở Phan Thiết). Năm 1908, Lương Thúc Kỳ bị bắt và giam ở Côn Đảo tới năm 1917. Phan Khôi với bà Lương Thị Tuệ có 8 người con: Phan Thao, Phan Cừ, Phan Thị Hựu Khanh, Phan Thị Bang Khanh, một con trai chết lúc 10 tuổi, Phan Thị Mỹ Khanh, Phan Thị Tiểu Khanh, Phan Trản.
Người vợ thứ hai tên là Nguyễn Thị Huệ. Hai người chung sống từ năm 1935 và sinh được ba người con: Phan Nam Sinh, Phan Thị Thái, Phan Lang Sa (sau tự đổi tên thành Phan An Sa). Mảnh đất địa linh, nhân kiệt Quảng Nam chính là cái nôi hình thành nên tính cách, bản lĩnh rất riêng và độc đáo của Phan Khôi. Tiếp nhận nền văn hóa Chăm pa, và ngay sau đó, từ rất sớm, con người trên vùng đất mới Quảng Nam là những người Việt đầu tiên tiếp xúc với văn hóa phương Tây qua các nhà buôn, các giáo sĩ rồi đến người Hoa, người Nhật qua cửa biển Hội An.
Sự giao lưu với nhiều luồng văn hóa khác nhau ấy đã để lại những dấu ấn đậm nhạt khác nhau trên mọi mặt sinh hoạt xã hội, thể hiện trong các hình thái văn hóa dân gian, tạo nên nét đặc thù riêng biệt của vùng văn hóa Quảng Nam trong nền văn hóa chung của dân tộc Việt, đã hun đúc nên con người Quảng Nam có ý chí, bản lĩnh kiên cường, tính tình phóng khoáng, ham chuộng tự do, kiên nhẫn, chịu khó, ham học hỏi, cầu tiến, khả năng tiếp nhận và phát huy cái mới. Sức sống, sức sáng tạo của người dân nơi đây luôn gắn liền với sự “nhạy cảm với cái mới, khao khát cái mới như đất hạn khát mưa, háo hức hút ngay từ giọt nước đầu tiên. Thậm chí khi chưa thật sự có giọt nước nào, chưa thật sự mưa đã náo nức hóng về mưa, cảm nhận ra nó rất sớm, chờ đón nó nồng nhiệt” [126, tr. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển, đất Quảng Nam được coi là vùng “đất học”, “đất khoa bảng”.
Nơi đây là quê hương của nhiều nhân tài học rộng, đỗ cao, nhiều vị anh hùng dân tộc qua các thời kì, những con người làm rạng danh đất Quảng như Phạm Phú Thứ, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Cao Vân,… Từ đầu triều Nguyễn, tại Quảng Nam đã hình thành một trung tâm văn học được coi là đứng thứ hai đất nước sau trung tâm văn học cổ kính Thủ đô Hà Nội. Tinh tuý của học thuật Quảng Nam là cái học thấu suốt, cách vật trí tri, học để hiểu biết thêm ý nghĩa và mục đích của học vấn, học đi đôi với hành, học để phát huy đạo đức. Học hành giỏi, thi đỗ làm quan, là con đường lập thân của người đàn ông Việt Nam thời trước. Quan trường là phương tiện tốt để những người yêu nước thương dân đem khả năng của mình ra phục vụ.
Ða số những danh sĩ Quảng Nam là những người yêu nước thương dân. Họ là những vị quan thanh liêm nổi tiếng. Gặp thời loạn li, đất nước bị ngoại xâm, họ tích cực chống giặc bảo vệ tổ quốc, hoặc từ quan để tham gia vào các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Phan Khôi là một trong những người tiêu biểu cho “Quảng Nam hay cãi”.
Không phải ngẫu nhiên mà người Quảng có câu “lí sự quá Phan Khôi”. Ông vốn không phải là người bảo thủ, mà luôn nhạy bén với cái mới. Cái “cốt tính” xứ Quảng đã ăn sâu vào máu thịt ông, hình thành nên hệ thống tư duy thể hiện “sự vươn lên của tâm hồn, tinh thần bất khuất, đức tính chịu khó, hăng hái làm việc nghĩa, rất can đảm, sẵn sàng hi sinh đấu tranh chống những thế lực đàn áp. Đó là cái trầm lặng của con người nghĩ nhiều, cảm nhiều, hành động nhiều và gặp trường hợp nào cũng biết nói lớn.
Cái cá tính ấy được thể hiện qua hành động thì vô cùng phong phú. Người xứ Quảng rất giàu tình cảm, nhưng không bộc lộ ồn ào mà lại thầm kín, bền chặt. Họ giản dị, thiết thực, thẳng thắn, chân thành, rất giàu nghị lực. Đó là mẫu người có ý 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chí cương quyết, có con tim hào hùng” [31, tr.
Phan Khôi là mẫu người như thế. Một trong những người có ảnh hưởng sâu sắc đến tính cách và bản lĩnh của Phan Khôi đó là bà cố nội - người dựng nghiệp họ Phan ở Điện Bàn. Phan Khôi từng viết: “Họ Phan chúng tôi, ông thủy tổ nguyên ở Nghệ An vào lập làng tại Quảng Nam, kêu là Bảo An” [4, tr. Làng Bảo An do ba họ Nguyễn, Ngô và Phan lập ra.
Họ Phan từ khởi thủy đến đời ông cố Phan Khôi vốn “nghèo hèn, dốt nát”, năm 1809, ông lấy bà cố, chung sống 15 năm, có 7 con thì ông mất; người con út (ông nội Phan Khôi) mới 2 tuổi. Bà cố buôn gánh ở Hội An, nuôi con trong 6 năm. Bà tái giá, làm vợ kế một ông Đội khá giả ở làng Hội Vực nhưng bà ra điều kiện: phải để cho bà về nhà chồng trước trông nom con cái. Theo lời những người già trong làng, bà thường cưỡi ngựa đi từ làng Hội Vực về Bảo An hay ngược lại, đồ vật chất đầy trên cổ ngựa, nhờ vậy mà các con bà được ăn học.
Sáu năm sau, ông Đội mất, bà đem 2 con với ông Đội về nuôi cùng 7 con đời chồng trước. Nhờ có vốn, bà mở đại lí buôn đường với Tàu khách ở Hội An, trở thành người phụ nữ đầu tiên có hãng xuất cảng đường và thành “cự phú". Dù có công lớn với gia đình, nhưng vì tội tái giá, nên sau khi mất (ở tuổi 73), bà không được chôn ở đất công của làng. Vì vậy, trong Chuyện bà cố tôi đăng trên Phụ nữ tân văn, số 25, ngày 17-10- 1929, Phan Khôi đòi kiện cái luật cổ hủ của xã hội thời ấy.
Người phụ nữ độc lập, cưỡi ngựa "nhảy qua" hàng rào lễ giáo cổ hủ đầu thế kỉ XIX đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và hành động của Phan Khôi. Vì thế, ông luôn đấu tranh cho quyền làm người của phụ nữ đồng thời tiên phong và phản biện trong nhiều lĩnh vực văn hóa và tư tưởng. Ngay từ nhỏ, Phan Khôi đã nổi tiếng thông minh, ham học hỏi và hay “lí sự”. Trong cuốn tự truyện Đi học đi thi, Phan Khôi đã viết về mình: “Tôi từ 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhỏ có tư bẩm thông minh lạ.
Lên 13 tuổi đã “cụ thể tam trường”: Nghĩa là về lối văn khoa cử, kinh nghĩa ở trường nhất, thi phú trường nhì, văn sách trường ba tôi đều làm được cả trong tuổi ấy. Ông nội tôi và ông thân tôi đều để hi vọng vào tôi nhiều lắm. Ông nội tôi sống đến năm tôi 16 tuổi, đi thi khoa đầu, hỏng trường nhất, rồi người mới mất” [145, tr. Phan Khôi học Trần Quý Cáp 10 năm, từ năm 1896 đến năm 1906.
Trần Quý Cáp (1870- 1908) - Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904) cùng với Huỳnh Thúc Kháng đậu Hoàng giáp cùng khoa và Phan Chu Trinh đậu Phó bảng (1901), là ba nhà lãnh đạo Duy Tân. Sau khi đỗ đạt, năm 1905, ba ông rủ nhau đi vào Nam và phát động phong trào Duy Tân (1906-1908), chủ trương bài xích cử nghiệp, đề xướng tân học. Trần Quý Cáp là người hướng dẫn tư tưởng thanh thiếu niên và tiếp tục vun xới tinh thần ái quốc ở Phan Khôi. Học trò của thầy Trần Quý Cáp có đến hàng nghìn người.
Trần Quý Cáp là người hay chữ nhất trong ba vị lãnh tụ Duy Tân. Huỳnh Thúc Kháng cho biết: “Về thi văn của Tiên sinh không lưu bản cảo, chỉ có đồng nhân cùng tôi còn nhớ đôi bài lượm lặt chép thành tập, gửi nơi Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác” [40, tr. Cái chết thảm khốc của Trần Quý Cáp đã in dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời Phan Khôi và ảnh hưởng sâu xa đến đường lối văn hoá và sự tranh đấu bất bạo động của ông sau này.