Oan Sai Trong Hoạt Động Tố Tụng Hình Sự và Trách Nhiệm Bồi Thường Thiệt Hại

Bài viết phân tích oan sai trong tố tụng hành chính và trách nhiệm bồi thường, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý.

Chuyên ngành

Khoa Học Pháp Lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công Trình Dự Thi Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên

2009-2010

82
7
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Oan Sai Trong Tố Tụng Hình Sự Hiện Nay

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, việc bảo vệ quyền con người luôn được đặt lên hàng đầu. Oan sai trong tố tụng hình sự là một vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn nỗ lực để giảm thiểu tình trạng này, đồng thời đảm bảo trách nhiệm bồi thường cho những người bị oan. Điều 2 Hiến pháp 1992 khẳng định bản chất Nhà nước ta là của dân, do dân và vì dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Do đó, việc minh oan, phục hồi danh dựbồi thường thiệt hại cho người bị oan là một yêu cầu tất yếu.

1.1. Định Nghĩa Oan Sai Trong Tố Tụng Hình Sự

Khái niệm oan sai trong tố tụng hình sự dùng để chỉ tình trạng một người vô tội bị khởi tố, truy tố, xét xử hoặc thi hành án một cách trái pháp luật. Điều này có thể xảy ra do sai sót trong điều tra, sai sót trong truy tố, hoặc sai sót trong xét xử. Hậu quả của oan sai không chỉ gây tổn thất về vật chất mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần, danh dự và uy tín của người bị oan và gia đình họ. Việc xác định một người bị oan cần dựa trên những căn cứ pháp lý rõ ràng, khách quan.

1.2. Căn Cứ Xác Định Người Bị Oan Trong Tố Tụng Hình Sự

Để xác định một người bị oan, cần có những căn cứ pháp lý vững chắc. Căn cứ này thường là bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tuyên người đó không có tội hoặc đình chỉ vụ án vì không có căn cứ chứng minh tội phạm. Ngoài ra, cần xem xét các vi phạm tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, như sai phạm trong thu thập chứng cứ, vi phạm quyền bào chữa, hoặc áp dụng pháp luật không chính xác. Việc chứng minh thiệt hại do oan sai gây ra cũng là một yếu tố quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường.

1.3. Hậu Quả Pháp Lý Của Oan Sai Trong Tố Tụng Hình Sự

Hậu quả pháp lý của oan sai rất nghiêm trọng. Người bị oan có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần. Cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm minh oan, phục hồi danh dựxin lỗi công khai người bị oan. Ngoài ra, những người gây ra oan sai phải chịu trách nhiệm kỷ luật hoặc trách nhiệm hình sự, tùy theo mức độ vi phạm. Việc xử lý nghiêm minh các trường hợp oan sai là cần thiết để đảm bảo công lý và củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống pháp luật.

II. Bồi Thường Oan Sai Quy Định Pháp Luật Việt Nam Hiện Hành

Pháp luật Việt Nam hiện hành có những quy định cụ thể về bồi thường oan sai nhằm đảm bảo quyền lợi của người bị oan. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định chi tiết về phạm vi, mức bồi thường, thủ tục giải quyết bồi thường. Theo đó, người bị oan có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và các chi phí khác phát sinh do oan sai gây ra. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường và có quyền yêu cầu người gây ra oan sai bồi hoàn.

2.1. Quyền Được Bồi Thường Của Người Bị Oan Sai

Người bị oan sai có quyền được bồi thường do hành vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Quyền này được bảo đảm bởi Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan. Phạm vi bồi thường bao gồm bồi thường tổn thất tinh thần, bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường thu nhập bị mất, và các chi phí hợp lý khác. Mức bồi thường được xác định dựa trên mức độ thiệt hại thực tế và các quy định của pháp luật.

2.2. Trách Nhiệm Bồi Thường Thiệt Hại Của Cơ Quan Tố Tụng

Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Trách nhiệm này không phụ thuộc vào việc người gây ra oan sai có bị xử lý kỷ luật hay hình sự hay không. Cơ quan bồi thường có quyền yêu cầu người gây ra oan sai bồi hoàn một phần hoặc toàn bộ số tiền đã bồi thường, tùy theo mức độ lỗi và quy định của pháp luật. Điều này nhằm nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ.

2.3. Trình Tự Thủ Tục Giải Quyết Việc Bồi Thường Oan Sai

Trình tự, thủ tục giải quyết việc bồi thường oan sai được quy định chi tiết trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Người bị oan phải làm đơn yêu cầu bồi thường gửi đến cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan này có trách nhiệm xem xét, giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật. Nếu không đồng ý với quyết định của cơ quan này, người bị oan có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện ra tòa án.

III. Thực Trạng Oan Sai và Bồi Thường Tại Việt Nam Hiện Nay

Mặc dù pháp luật đã có những quy định cụ thể về bồi thường oan sai, nhưng thực tế tình trạng oan sai vẫn còn xảy ra và việc bồi thường còn gặp nhiều khó khăn. Số lượng vụ án oan sai được phát hiện và giải quyết còn hạn chế. Thủ tục bồi thường còn rườm rà, phức tạp, gây khó khăn cho người bị oan. Mức bồi thường còn thấp, chưa tương xứng với những thiệt hại mà người bị oan phải gánh chịu.

3.1. Thực Trạng Oan Sai Trong Tố Tụng Hình Sự Hiện Nay

Thực trạng oan sai trong tố tụng hình sự vẫn là một vấn đề đáng lo ngại. Nhiều vụ án oan sai đã được phát hiện và gây bức xúc trong dư luận. Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ nghiệp vụ của một số cán bộ điều tra, kiểm sát, xét xử còn hạn chế, ý thức trách nhiệm chưa cao, thậm chí có trường hợp còn có hành vi vi phạm tố tụng, làm sai lệch hồ sơ vụ án. Điều này dẫn đến việc bắt oan, giam oan, truy tố oan, xét xử oan.

3.2. Thực Trạng Bồi Thường Thiệt Hại Của Cơ Quan Tố Tụng

Thực trạng bồi thường thiệt hại của cơ quan tiến hành tố tụng còn nhiều bất cập. Thủ tục yêu cầu bồi thường còn phức tạp, kéo dài, gây khó khăn cho người bị oan. Mức bồi thường còn thấp, chưa đủ bù đắp những thiệt hại mà người bị oan phải gánh chịu. Nhiều trường hợp, cơ quan có trách nhiệm bồi thường còn né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, gây bức xúc cho người bị oan.

IV. Nguyên Nhân và Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Oan Sai

Tình trạng oan sai trong tố tụng hình sự có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan. Để khắc phục tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ, từ hoàn thiện pháp luật đến nâng cao năng lực của cán bộ, công chức và tăng cường giám sát của xã hội. Cần chú trọng đến việc phòng ngừa oan sai hơn là chỉ tập trung vào việc giải quyết hậu quả.

4.1. Nguyên Nhân Khách Quan Dẫn Đến Oan Sai

Nguyên nhân khách quan dẫn đến oan sai có thể kể đến như hệ thống pháp luật còn chưa hoàn thiện, một số quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn cho việc áp dụng. Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử còn thiếu thốn, lạc hậu. Áp lực từ dư luận xã hội, từ cấp trên cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.

4.2. Nguyên Nhân Chủ Quan Dẫn Đến Oan Sai

Nguyên nhân chủ quan dẫn đến oan sai chủ yếu là do trình độ nghiệp vụ của một số cán bộ điều tra, kiểm sát, xét xử còn hạn chế, ý thức trách nhiệm chưa cao, thậm chí có trường hợp còn có hành vi vi phạm tố tụng, làm sai lệch hồ sơ vụ án. Tình trạng tham nhũng, lợi dụng chức vụ quyền hạn cũng là một nguyên nhân dẫn đến oan sai.

4.3. Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Oan Sai Trong Tố Tụng

Để khắc phục tình trạng oan sai, cần có những giải pháp đồng bộ như hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực của cán bộ, công chức, tăng cường giám sát của xã hội, đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động tố tụng. Cần chú trọng đến việc phòng ngừa oan sai hơn là chỉ tập trung vào việc giải quyết hậu quả.

V. Vai Trò Của Minh Oan Trong Bảo Vệ Quyền Con Người

Minh oan không chỉ là việc bồi thường thiệt hại mà còn là sự thừa nhận sai lầm của hệ thống pháp luật, là sự phục hồi danh dự và uy tín cho người bị oan. Minh oan có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, củng cố niềm tin của người dân vào công lý và pháp luật. Một xã hội văn minh, tiến bộ là một xã hội không có chỗ cho oan sai.

5.1. Khái Niệm Minh Oan Trong Tố Tụng Hình Sự

Minh oan trong tố tụng hình sự là việc cơ quan có thẩm quyền chính thức thừa nhận một người đã bị oan sai trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Việc minh oan bao gồm việc hủy bỏ các quyết định, bản án trái pháp luật, phục hồi danh dự, bồi thường thiệt hạixin lỗi công khai người bị oan.

5.2. Trách Nhiệm Minh Oan Thuộc Về Ai

Trách nhiệm minh oan thuộc về cơ quan đã gây ra oan sai. Cơ quan này phải chủ động thực hiện các biện pháp minh oan theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp cơ quan gây ra oan sai không tự giác thực hiện, người bị oan có quyền yêu cầu cơ quan cấp trên hoặc tòa án can thiệp.

5.3. Ý Nghĩa Của Việc Minh Oan Đối Với Xã Hội

Việc minh oan có ý nghĩa to lớn đối với xã hội. Nó thể hiện sự công bằng, minh bạch của hệ thống pháp luật, củng cố niềm tin của người dân vào công lý. Minh oan cũng là một biện pháp quan trọng để phòng ngừa oan sai trong tương lai, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ.

VI. Hướng Đến Một Nền Tư Pháp Công Bằng Không Oan Sai

Để xây dựng một nền tư pháp công bằng, không oan sai, cần có sự nỗ lực của toàn xã hội. Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực của cán bộ, công chức, tăng cường giám sát của xã hội, đảm bảo quyền con người và quyền công dân. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể xây dựng một xã hội thực sự công bằng, dân chủ, văn minh.

6.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Về Tố Tụng Hình Sự

Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tố tụng hình sự theo hướng bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tăng cường tính công khai, minh bạch, dân chủ trong hoạt động tố tụng. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn cho việc áp dụng.

6.2. Nâng Cao Năng Lực Của Cán Bộ Tố Tụng

Cần nâng cao năng lực của cán bộ điều tra, kiểm sát, xét xử thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn. Cần chú trọng đến việc giáo dục phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm cho cán bộ, công chức. Cần có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của cán bộ, công chức để phòng ngừa sai phạm.

6.3. Tăng Cường Giám Sát Của Xã Hội Đối Với Hoạt Động Tố Tụng

Cần tăng cường giám sát của xã hội đối với hoạt động tố tụng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức xã hội, các đoàn thể. Cần tạo điều kiện để người dân tham gia vào quá trình giám sát, phản biện xã hội. Cần bảo vệ người tố cáo, người cung cấp thông tin về sai phạm trong hoạt động tố tụng.

05/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU: 1) Tính cấp thiết của đề tài: Từ khi đất nƣớc ra đời cho đến nay, Đảng và Nhà nƣớc đã xác định, bản chất “Nhà nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân…”-Điều 2 Hiến pháp 1992. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua các Cơ quan Nhà nƣớc (Quốc Hội và Hội đồng nhân dân) do mình lập nên, trên cơ sở đó, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nƣớc và công dân (Điều 6 Hiến pháp). Để đảm bảo cho mọi hoạt động của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện triệt để, Nhà nƣớc ban hành pháp luật, không ngừng tăng cƣờng pháp chế XHCN, đồng thời quy định mọi hành vi xâm phạm đến lợi ích Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật. Bên cạnh đó, Nhà nƣớc còn có những quy định đặc thù (quyền hạn và nhiệm vụ) cho mỗi cơ quan, tổ chức thực hiện.

Chỉ những cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đƣợc Nhà nƣớc trao quyền với đƣợc làm những gì pháp luật cho phép. Mọi công dân trong Nhà nƣớc phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật, không đƣợc phép làm những gì pháp luật cấm. Điều đó nói lên rằng, Nhà nƣớc thực hiện quyền lực của mình trong giới hạn luật định, còn mọi cá nhân, tổ chức đƣợc thực hiện những gì pháp luật không cấm. Đây là những tiến bộ vƣợt trội mà Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt chú trọng và thực hiện.

Đảm bảo cho Nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam phát triển bền vững đòi hỏi hệ thống pháp luật phải đƣợc tôn trọng và thực hiện triệt để, mà trƣớc hết phải chú trọng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp luật, mọi công dân trong Nhà nƣớc phải có hiểu biết nhất định về pháp luật. Kinh tế-xã hội đất nƣớc đang trên đà phát triển mạnh mẽ, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN, đó là thành quả không nhỏ của sự hoàn thiện hệ thống pháp luật và toàn xã hội thực hiện trên tinh thần “thƣợng tôn pháp luật”. Đảm bảo Nhà nƣớc XHCN thực sự là của dân, do dân và vì dân, đảm bảo quyền con ngƣời trong xã hội không thể không kể đến vai trò đặc biệt quan trọng của BLTTHS trong việc góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm và thể hiện bản chất Nhà nƣớc-Nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam. Lịch sử hình thành đất nƣớc gắn liền với đấu tranh giai cấp, đến lúc mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa đƣợc thì tất yếu Nhà nƣớc mới đƣợc hình thành.

Khi Nhà nƣớc mới đƣợc ra đời, để duy trì sự thống trị của mình, giai cấp thống trị luôn lập nên bộ máy Nhà nƣớc nhằm cai trị và duy trì sự ổn định của toàn xã hội, một trong những biện pháp mà đƣợc coi là hiệu quả và tối ƣu nhất là quy định những hành vi nào bị coi là tội phạm và các biện pháp cƣỡng chế cần thiết. Đây cũng là cách mà Nhà nƣớc bảo vệ quyền và lợi ích hợp 2 pháp của mình cũng nhƣ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức dƣới sự thống trị của mình. Trong toàn bộ hệ thống pháp luật thì BLHS đƣợc coi là biện pháp chế tài nghiêm khắc nhất mà nhà nƣớc áp dụng đối với những hành vi lệch lạc quá xa so với xã hội, những hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội, Nhà nƣớc quy định đó là tội phạm. Để giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, đúng pháp luật, Nhà nƣớc ban hành BLTTHS nhằm thực hiện một số hoạt động tố tụng trƣớc khi đƣa ra xét xử những ngƣời có hành vi phạm pháp.

Trong suốt quá trình Tố tụng, Nhà nƣớc thông qua các cơ quan do mình lập nên tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử theo trình tự và thủ tục đƣợc quy định cụ thể trong BLTTHS, vừa đảm bảo cho hoạt động quản lý và điều hành của Nhà nƣớc, vừa đảm bảo quyền công dân trong Nhà nƣớc mình, đặc biệt là bảo đảm quyền con ngƣời vốn dĩ là quyền tự nhiên, vốn có. Đồng thời Nhà nƣớc phải ngăn chặn và xử lý kịp thời không để cho những hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của công dân dƣới sự quản lý của mình. Nhƣng không phải vì việc xử lý nhanh chóng vụ án hình sự mà để quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của công dân mình bị xâm phạm. Nhà nƣớc thông qua hoạt động TTHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhƣng cũng chính trong hoạt động Tố tụng này mà quyền và lợi ích hợp pháp của công dân dễ bị xâm phạm nhất.

Mục đích của Tố tụng Hình sự là xét xử đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật đồng thời cũng không đƣợc làm oan ngƣời vô tội. Tại Điều 9 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: “Mọi ngƣời đều có quyền hƣởng tự do và an ninh cá nhân. Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ. Không một ai bị tƣớc quyền tự do trừ trƣờng hợp có lý do và phải theo đúng những thủ tục mà luật pháp quy định…Bất cứ ngƣời nào trở thành nạn nhân của việc bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có yêu cầu đƣợc bồi thƣờng”.

Kế thừa tinh thần đó, Ở Việt Nam, ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên – ghi nhận tại điều 11 Hiến pháp năm 1946, vấn đề quyền con ngƣời, quyền công dân đã đƣợc chú ý, trong đó có các quyền liên quan đến hoạt động tố tụng hình sự nhƣ: “Tƣ pháp chƣa quyết định thì không đƣợc bắt bớ và giam cầm ngƣời công dân Việt Nam”. Các quy định này là những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự nhằm bảo vệ quyền con ngƣời. Tại điều 27 Hiến pháp năm 1959, các quy định về quyền con ngƣời đƣợc mở rộng hơn, quyền bất khả xâm phạm về thân thể tiếp tục đƣợc khẳng định và đƣợc nâng lên một bƣớc về mặt nội dung: “Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nƣớc Việt Nam 3 Dân chủ Cộng hòa đƣợc bảo đảm. Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân”.

Quy định tại điều 69 Hiến pháp 1980 tiếp tục khẳng định và ghi nhận quyền con ngƣời trong tố tụng hình sự một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn và chặt chẽ hơn. Điều 69 quy định: “Không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân. Việc bắt và giam giữ ngƣời phải theo đúng pháp luật”. Một nguyên tắc tiến bộ lần đầu tiên đã đƣợc quy định trong Điều 10 BLTTHS năm 1988 và sau này đƣợc thể hiện tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992: “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chƣa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật của.

Ngƣời bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền đƣợc bồi thƣờng thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Ngƣời làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho ngƣời khác phải bị xử lý”. Những nguyên tắc thể hiện quyền con ngƣời quy định tại BLTTHS năm 1988 đã để lại những thành tựu to lớn, kế thừa những nguyên tắc đó, BLTTHS năm 2003 còn có những quy định cụ thể hơn về quyền đƣợc bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị oan trong TTHS. Điều 29 BLTTHS năm 2003 quy định: “Ngƣời bị oan do ngƣời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền đƣợc bồi thƣờng thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi.

Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thƣờng thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho ngƣời bị oan; ngƣời đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”. Quy định này thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc bảo đảm việc bồi thƣờng thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự cho ngƣời bị oan. Tuy nhiên vấn đề oan trong TTHS và việc BTTH cho ngƣời bị oan cũng còn những vƣớng mắc cả về lý luận và thực tiễn cần đƣợc làm rõ, nhất là vào thời điểm hiện nay chúng ta đang tiến hành thực thi Luật TNBT của Nhà nƣớc. Những nguyên tắc đƣợc quy định cụ thể trong BLTTHS năm 2003 thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng, bảo đảm sự tồn tại nhà nƣớc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, thể hiện rõ bản chất Nhà nƣớc ta là Nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân, trên cơ sở pháp luật, Nhà nƣớc luôn tôn trọng và bảo đảm quyền con ngƣời- một thực quyền đƣợc cả thế giới thừa nhận và đây là một quyền cơ bản vốn dĩ, tự nhiên từ khi con ngƣời đƣợc sinh ra.

Bên cạnh những thành quả mà BLTTHS đã đạt đƣợc vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định, chính những hạn chế đó đã xâm phạm trực tiếp đến quyền con ngƣời đƣợc toàn xã hội hƣớng tới 4 bảo vệ, ngoài ra, nó còn ảnh hƣởng tới chế độ chính trị-xã hội, ảnh hƣởng tới vị thế, niềm tin và uy tín Nhà nƣớc so với quốc tế nói chung và trong nƣớc nói riêng, biểu hiện của những hạn chế đó là rất nhiều vụ án oan, sai xảy ra, rất nhiều đơn khiếu kiện vụ án oan, sai mà chúng ta vẫn chƣa khắc phục đƣợc một cách triệt để. Từ những thực trạng đó, ta càng cần phải nhìn nhận một cách khách quan và khoa học, xem xét kỹ lƣỡng những vấn đề còn bất cập, để trả lời cho câu hỏi: phải chăng BLTTHS chƣa hoàn thiện, chƣa thể hiện rõ quyền con ngƣời hay ngƣời dân chƣa hiểu rõ những quy định của pháp luật TTHS là nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trong đó chú trọng đặc biệt đến một quyền cơ bản và bất khả xâm phạm- đó là quyền con ngƣời? Phải chăng mọi hoạt động của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đều đƣợc thực hiện đúng theo pháp luật, trong trƣờng hợp họ áp dụng sai luật thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm nhƣ thế nào, cơ chế nào để ngƣời dân biết đƣợc họ đang bị áp dụng sai luật? Ngƣời bị oan sẽ sử dụng công cụ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ?!.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ