PHẦN MỞ ĐẦU: 1) Tính cấp thiết của đề tài: Từ khi đất nƣớc ra đời cho đến nay, Đảng và Nhà nƣớc đã xác định, bản chất “Nhà nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân…”-Điều 2 Hiến pháp 1992. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua các Cơ quan Nhà nƣớc (Quốc Hội và Hội đồng nhân dân) do mình lập nên, trên cơ sở đó, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nƣớc và công dân (Điều 6 Hiến pháp). Để đảm bảo cho mọi hoạt động của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện triệt để, Nhà nƣớc ban hành pháp luật, không ngừng tăng cƣờng pháp chế XHCN, đồng thời quy định mọi hành vi xâm phạm đến lợi ích Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật. Bên cạnh đó, Nhà nƣớc còn có những quy định đặc thù (quyền hạn và nhiệm vụ) cho mỗi cơ quan, tổ chức thực hiện.
Chỉ những cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đƣợc Nhà nƣớc trao quyền với đƣợc làm những gì pháp luật cho phép. Mọi công dân trong Nhà nƣớc phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật, không đƣợc phép làm những gì pháp luật cấm. Điều đó nói lên rằng, Nhà nƣớc thực hiện quyền lực của mình trong giới hạn luật định, còn mọi cá nhân, tổ chức đƣợc thực hiện những gì pháp luật không cấm. Đây là những tiến bộ vƣợt trội mà Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt chú trọng và thực hiện.
Đảm bảo cho Nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam phát triển bền vững đòi hỏi hệ thống pháp luật phải đƣợc tôn trọng và thực hiện triệt để, mà trƣớc hết phải chú trọng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp luật, mọi công dân trong Nhà nƣớc phải có hiểu biết nhất định về pháp luật. Kinh tế-xã hội đất nƣớc đang trên đà phát triển mạnh mẽ, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN, đó là thành quả không nhỏ của sự hoàn thiện hệ thống pháp luật và toàn xã hội thực hiện trên tinh thần “thƣợng tôn pháp luật”. Đảm bảo Nhà nƣớc XHCN thực sự là của dân, do dân và vì dân, đảm bảo quyền con ngƣời trong xã hội không thể không kể đến vai trò đặc biệt quan trọng của BLTTHS trong việc góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm và thể hiện bản chất Nhà nƣớc-Nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam. Lịch sử hình thành đất nƣớc gắn liền với đấu tranh giai cấp, đến lúc mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa đƣợc thì tất yếu Nhà nƣớc mới đƣợc hình thành.
Khi Nhà nƣớc mới đƣợc ra đời, để duy trì sự thống trị của mình, giai cấp thống trị luôn lập nên bộ máy Nhà nƣớc nhằm cai trị và duy trì sự ổn định của toàn xã hội, một trong những biện pháp mà đƣợc coi là hiệu quả và tối ƣu nhất là quy định những hành vi nào bị coi là tội phạm và các biện pháp cƣỡng chế cần thiết. Đây cũng là cách mà Nhà nƣớc bảo vệ quyền và lợi ích hợp 2 pháp của mình cũng nhƣ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức dƣới sự thống trị của mình. Trong toàn bộ hệ thống pháp luật thì BLHS đƣợc coi là biện pháp chế tài nghiêm khắc nhất mà nhà nƣớc áp dụng đối với những hành vi lệch lạc quá xa so với xã hội, những hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội, Nhà nƣớc quy định đó là tội phạm. Để giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, đúng pháp luật, Nhà nƣớc ban hành BLTTHS nhằm thực hiện một số hoạt động tố tụng trƣớc khi đƣa ra xét xử những ngƣời có hành vi phạm pháp.
Trong suốt quá trình Tố tụng, Nhà nƣớc thông qua các cơ quan do mình lập nên tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử theo trình tự và thủ tục đƣợc quy định cụ thể trong BLTTHS, vừa đảm bảo cho hoạt động quản lý và điều hành của Nhà nƣớc, vừa đảm bảo quyền công dân trong Nhà nƣớc mình, đặc biệt là bảo đảm quyền con ngƣời vốn dĩ là quyền tự nhiên, vốn có. Đồng thời Nhà nƣớc phải ngăn chặn và xử lý kịp thời không để cho những hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của công dân dƣới sự quản lý của mình. Nhƣng không phải vì việc xử lý nhanh chóng vụ án hình sự mà để quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của công dân mình bị xâm phạm. Nhà nƣớc thông qua hoạt động TTHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhƣng cũng chính trong hoạt động Tố tụng này mà quyền và lợi ích hợp pháp của công dân dễ bị xâm phạm nhất.
Mục đích của Tố tụng Hình sự là xét xử đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật đồng thời cũng không đƣợc làm oan ngƣời vô tội. Tại Điều 9 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: “Mọi ngƣời đều có quyền hƣởng tự do và an ninh cá nhân. Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ. Không một ai bị tƣớc quyền tự do trừ trƣờng hợp có lý do và phải theo đúng những thủ tục mà luật pháp quy định…Bất cứ ngƣời nào trở thành nạn nhân của việc bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có yêu cầu đƣợc bồi thƣờng”.
Kế thừa tinh thần đó, Ở Việt Nam, ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên – ghi nhận tại điều 11 Hiến pháp năm 1946, vấn đề quyền con ngƣời, quyền công dân đã đƣợc chú ý, trong đó có các quyền liên quan đến hoạt động tố tụng hình sự nhƣ: “Tƣ pháp chƣa quyết định thì không đƣợc bắt bớ và giam cầm ngƣời công dân Việt Nam”. Các quy định này là những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự nhằm bảo vệ quyền con ngƣời. Tại điều 27 Hiến pháp năm 1959, các quy định về quyền con ngƣời đƣợc mở rộng hơn, quyền bất khả xâm phạm về thân thể tiếp tục đƣợc khẳng định và đƣợc nâng lên một bƣớc về mặt nội dung: “Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nƣớc Việt Nam 3 Dân chủ Cộng hòa đƣợc bảo đảm. Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân”.
Quy định tại điều 69 Hiến pháp 1980 tiếp tục khẳng định và ghi nhận quyền con ngƣời trong tố tụng hình sự một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn và chặt chẽ hơn. Điều 69 quy định: “Không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân. Việc bắt và giam giữ ngƣời phải theo đúng pháp luật”. Một nguyên tắc tiến bộ lần đầu tiên đã đƣợc quy định trong Điều 10 BLTTHS năm 1988 và sau này đƣợc thể hiện tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992: “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chƣa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật của.
Ngƣời bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền đƣợc bồi thƣờng thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Ngƣời làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho ngƣời khác phải bị xử lý”. Những nguyên tắc thể hiện quyền con ngƣời quy định tại BLTTHS năm 1988 đã để lại những thành tựu to lớn, kế thừa những nguyên tắc đó, BLTTHS năm 2003 còn có những quy định cụ thể hơn về quyền đƣợc bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị oan trong TTHS. Điều 29 BLTTHS năm 2003 quy định: “Ngƣời bị oan do ngƣời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền đƣợc bồi thƣờng thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi.
Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thƣờng thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho ngƣời bị oan; ngƣời đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”. Quy định này thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc bảo đảm việc bồi thƣờng thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự cho ngƣời bị oan. Tuy nhiên vấn đề oan trong TTHS và việc BTTH cho ngƣời bị oan cũng còn những vƣớng mắc cả về lý luận và thực tiễn cần đƣợc làm rõ, nhất là vào thời điểm hiện nay chúng ta đang tiến hành thực thi Luật TNBT của Nhà nƣớc. Những nguyên tắc đƣợc quy định cụ thể trong BLTTHS năm 2003 thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng, bảo đảm sự tồn tại nhà nƣớc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, thể hiện rõ bản chất Nhà nƣớc ta là Nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân, trên cơ sở pháp luật, Nhà nƣớc luôn tôn trọng và bảo đảm quyền con ngƣời- một thực quyền đƣợc cả thế giới thừa nhận và đây là một quyền cơ bản vốn dĩ, tự nhiên từ khi con ngƣời đƣợc sinh ra.
Bên cạnh những thành quả mà BLTTHS đã đạt đƣợc vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định, chính những hạn chế đó đã xâm phạm trực tiếp đến quyền con ngƣời đƣợc toàn xã hội hƣớng tới 4 bảo vệ, ngoài ra, nó còn ảnh hƣởng tới chế độ chính trị-xã hội, ảnh hƣởng tới vị thế, niềm tin và uy tín Nhà nƣớc so với quốc tế nói chung và trong nƣớc nói riêng, biểu hiện của những hạn chế đó là rất nhiều vụ án oan, sai xảy ra, rất nhiều đơn khiếu kiện vụ án oan, sai mà chúng ta vẫn chƣa khắc phục đƣợc một cách triệt để. Từ những thực trạng đó, ta càng cần phải nhìn nhận một cách khách quan và khoa học, xem xét kỹ lƣỡng những vấn đề còn bất cập, để trả lời cho câu hỏi: phải chăng BLTTHS chƣa hoàn thiện, chƣa thể hiện rõ quyền con ngƣời hay ngƣời dân chƣa hiểu rõ những quy định của pháp luật TTHS là nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trong đó chú trọng đặc biệt đến một quyền cơ bản và bất khả xâm phạm- đó là quyền con ngƣời? Phải chăng mọi hoạt động của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đều đƣợc thực hiện đúng theo pháp luật, trong trƣờng hợp họ áp dụng sai luật thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm nhƣ thế nào, cơ chế nào để ngƣời dân biết đƣợc họ đang bị áp dụng sai luật? Ngƣời bị oan sẽ sử dụng công cụ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ?!.