Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật - Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Khoa học pháp lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
168
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình lí luận chung về nhà nước và pháp luật

Giáo trình lí luận chung về nhà nước và pháp luật là tài liệu học thuật quan trọng trong chương trình đào tạo luật. Nội dung cung cấp kiến thức nền tảng về bản chất, nguồn gốc, vai trò của nhà nước và pháp luật trong đời sống xã hội. Môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, nghiên cứu hai hiện tượng phức tạp là nhà nước và pháp luật từ nhiều góc độ khác nhau. Giáo trình trình bày các khái niệm cơ bản về nhà nước, pháp luật, quyền lực nhà nước, hệ thống pháp luật và nhà nước pháp quyền. Đây là môn học bắt buộc giúp sinh viên xây dựng nền tảng lý luận vững chắc trước khi tiếp cận các chuyên ngành luật cụ thể. Nội dung được biên soạn theo chương trình chuẩn, bám sát quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Giáo trình cũng kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.

1.1. Vị trí của môn học trong chương trình đào tạo luật

Môn lí luận chung về nhà nước và pháp luật đóng vai trò nền tảng trong hệ thống đào tạo luật học. Đây là môn học mở đầu, cung cấp phương pháp tư duy pháp lý và hệ thống khái niệm cơ bản cho toàn bộ quá trình học tập. Sinh viên được trang bị nhận thức khoa học về nhà nước và pháp luật, từ đó tiếp cận các môn luật chuyên ngành một cách có hệ thống. Môn học tạo cơ sở lý luận để hiểu sâu hơn về luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự và các bộ phận pháp luật khác. Vị trí nền tảng này giúp người học có cái nhìn tổng thể về hệ thống pháp luật.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của giáo trình

II. Phân tích nội dung cốt lõi của lí luận chung về nhà nước và pháp luật

Nội dung cốt lõi của giáo trình tập trung vào ba trụ cột chính: lý luận về nhà nước, lý luận về pháp luật và nhà nước pháp quyền. Phần nhà nước trình bày nguồn gốc, bản chất, chức năng, hình thức và các kiểu nhà nước trong lịch sử. Nhà nước được tiếp cận với tư cách hiện tượng xã hội phức tạp, sản phẩm của sự phát triển xã hội và đấu tranh giai cấp. Phần pháp luật phân tích khái niệm, bản chất, đặc trưng, nguồn gốc và vai trò điều chỉnh quan hệ xã hội. Giáo trình làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa nhà nước và pháp luật, trong đó nhà nước là chủ thể ban hành pháp luật, còn pháp luật là công cụ quản lý nhà nước. Phần nhà nước pháp quyền thể hiện quan điểm tiến bộ về tổ chức quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền con người, thượng tôn pháp luật và phân công quyền lực hợp lý.

2.1. Lý luận về nhà nước và các yếu tố cấu thành

2.2. Lý luận về pháp luật và vai trò điều chỉnh xã hội

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử xử hợphợphợp tác xã do Nhà nước quy định, mang tính bắt buộc chung và được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Pháp luật có vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đặc trưng nổi bật của pháp luật là tính quy phạm phổ biến, tính xác định chặt chẽ về hình thức và tính được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước. Giáo trình phân biệt pháp luật với các quy tắc xã hội khác như đạo đức, phong tục tập quán.

III. Phương pháp tiếp cận và học tập lí luận nhà nước và pháp luật

Việc tiếp cận giáo trình lí luận chung về nhà nước và pháp luật đòi hỏi phương pháp học tập khoa học và hệ thống. Phương pháp biện chứng duy vật là nền tảng phương pháp luận, giúp người học nhận thức nhà nước và pháp luật trong mối quan hệ biện chứng với cơ sở kinh tế, xã hội. Cần nắm vững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật trước khi phân tích các vấn đề cụ thể. Phương pháp lịch sử giúp hiểu sự hình thành và phát triển của nhà nước qua các thời kỳ. Phương pháp so sánh cho phép đối chiếu các kiểu nhà nước, hệ thống pháp luật khác nhau. Người học cần kết hợp lý luận với thực tiễn, vận dụng kiến thức vào phân tích các vấn đề pháp lý đương đại. Việc nghiên cứu tài liệu mở rộng, tham gia thảo luận nhóm và thực hành bài tập tình huống là phương pháp hiệu quả. Cần cập nhật thường xuyên các văn bản pháp luật mới để bổ sung kiến thức thực tiễn cho giáo trình.

3.1. Phương pháp biện chứng duy vật trong nghiên cứu nhà nước

Phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp luận cơ bản để nghiên cứu nhà nước và pháp luật. Phương pháp này đòi hỏi xem xét nhà nước trong mối quan hệ biện chứng với cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng. Nhà nước không tồn tại độc lập mà chịu sự quy định bởi điều kiện kinh tế, đồng thời tác động trở lại nền kinh tế. Phương pháp này giúp nhận thức bản chất giai cấp của nhà nước, hiểu rằng nhà nước là công cụ thực hiện quyền lực của giai cấp thống trị. Cần phân tích nhà nước trong sự vận động, phát triển, từ đó nhận ra quy luật khách quan chi phối sự tồn tại và phát triển của nhà nước.

3.2. Phương pháp lịch sử và so sánh trong phân tích pháp luật

Phương pháp lịch sử nghiên cứu nhà nước và pháp luật trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Cách tiếp cận này giúp tìm ra những đặc thù trong sự phát triển của nhà nước và pháp luật trong từng hoàn cảnh. Phương pháp so sánh đối chiếu các kiểu nhà nước, hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau. Sự so sánh giúp nhận ra điểm giống và khác biệt, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm. Hai phương pháp này bổ trợ cho nhau, tạo góc nhìn toàn diện về quá trình phát triển của nhà nước và pháp luật từ cổ đại đến hiện đại.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lí luận nhà nước và pháp luật tại Việt Nam

Lí luận chung về nhà nước và pháp luật có giá trị ứng dụng thực tiễn sâu sắc trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Kiến thức lý luận là cơ sở để hoạch định đường lối, chính sách về tổ chức và hoạt động của nhà nước. Nhà nước pháp quyền Việt Nam có những đặc điểm cơ bản: hệ thống pháp luật hoàn chỉnh với Hiến pháp đóng vai trò tối thượng, mối quan hệ trách nhiệm lẫn nhau giữa nhà nước và công dân, quyền tự do dân chủ được pháp luật bảo đảm. Ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân định hợp lý, có cơ chế cân bằng và chế ước lẫn nhau. Giáo trình cung cấp nền tảng để hiểu đường lối đổi mới thể chế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Việc vận dụng lí luận vào thực tiễn đòi hỏi kế thừa truyền thống dân tộc, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế và bám sát quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ứng dụng này góp phần củng cố trật tự pháp luật, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

4.1. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mục tiêu chiến lược của Việt Nam. Nhà nước pháp quyền có đặc điểm: hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đạo luật đóng vai trò tối thượng. Mối quan hệ giữa nhà nước và công dân dựa trên trách nhiệm lẫn nhau. Quyền tự do, dân chủ và lợi ích chính đáng của con người được bảo đảm toàn vẹn. Ba nhánh quyền lực được phân định rõ ràng, tạo cơ chế cân bằng, đối trọng. Mọi công dân bình đẳng trước pháp luật. Quá trình xây dựng đòi hỏi nắm vững nguyên lý Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa truyền thống dân tộc.

4.2. Vai trò của lí luận trong cải cách thể chế pháp luật

Lí luận về nhà nước và pháp luật đóng vai trò định hướng trong cải cách thể chế. Nền tảng lý luận giúp đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật, xác định hướng đổi mới phù hợp. Cải cách tư pháp đòi hỏi hiểu rõ nguyên tắc phân công quyền lực, độc lập xét xử. Cải cách hành chính cần cơ sở lý luận về quản lý nhà nước và trách nhiệm công vụ. Lí luận cũng hỗ trợ quá trình hội nhập pháp luật quốc tế, tiếp thu kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền của các nước phát triển. Ứng dụng lí luận vào thực tiễn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIÁO TRÌNH LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHẦN DẪN NHẬP MÔN HỌC CHƯƠNG 1 KHOA HỌC LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VÀ MÔN HỌC LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT I. LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT LÀ MỘT KHOA HỌC XÃ HỘI 1. Lý luận về nhà nước và pháp luật là một khoa học xã hội Khoa học xã hội nghiên cứu những mặt khác nhau, các hiện tượng xã hội của xã hội loài người mà trong đó con người là trung tâm. Khoa học pháp lý - khoa học về nhà nước và pháp luật - là một bộ phận của khoa học xã hội. Khoa học lý luận về nhà nước và pháp luật là một ngành khoa học xã hội bởi nó nghiên cứu hai hiện tượng xã hội là nhà nước và pháp luật. Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội phức tạp và đa dạng được nhiều ngành khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn, triết học Mác - Lênin nghiên cứu nhà nước và pháp luật cùng với việc nghiên cứu các hiện tượng xã hội khác để rút ra những quy luật vận động và phát triển chung của xã hội; lịch sử nhà nước và pháp luật lại nghiên cứu nhà nước và pháp luật trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể để tìm ra những đặc thù trong sự phát triển của nhà nước và pháp luật trong từng hoàn cảnh cụ thể. Các khoa học xã hội nghiên cứu những mặt khác nhau của xã hội loài người và toàn bộ hệ thống xã hội, đó là điều kiện sống của con người, những quan hệ xã hội, những kiểu và hình thức nhà nước và pháp luật, những hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc tư tưởng như triết học, tôn giáo, nghệ thuật, văn hoá. Khoa học pháp lý là một bộ phận của khoa học xã hội. Khoa học pháp lý nghiên cứu các phương diện xã hội, các quan hệ xã hội khi các phương diện xã hội và quan hệ đó được thể hiện dưới những hình thức pháp lý nhất định. Mục đích nghiên cứu của khoa học pháp lý không chỉ mang tính nhận thức đơn thuần về các hiện tượng, các quá trình về nhà nước và về pháp luật mà còn nhằm giải quyết những vấn đề của thực tiễn, của quá trình tổ chức và hoạt động của nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích của con người, củng cố và duy trì trật tự xã hội. Trong số các hướng nghiên cứu của khoa học pháp lý, có một hướng nghiên cứu có mức khái quát chung nhất, cao nhất, có tác động đến việc triển khai nghiên cứu trên các hướng tương đối cụ thể khác, đó là lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Lý luận về nhà nước và pháp luật là một ngành khoa học xã hội, cung cấp cho chúng ta những kiến thức chung về nhà nước và pháp luật, về vai trò xã hội và số phận lịch sử của nó. Lý luận về nhà nước và pháp luật được hình thành trên cơ sở các học thuyết khoa học và sự phát triển của xã hội. Các học thuyết khoa học tạo ra lập trường xuất phát và quan điểm tiếp cận cho lý luận về nhà nước và pháp luật. Trên cơ sở khoa học của các học thuyết về sự phát triển xã hội, lý luận về nhà nước và pháp luật làm sáng tỏ các vấn đề: nguyên nhân của sự xuất hiện, phát triển của nhà nước và pháp luật; vị trí, vai trò của nhà nước và pháp luật trong các hiện tượng xã hội; bản chất, hình thức, chức năng của nhà nước và pháp luật . Lý luận về nhà nước và pháp luật với tư cách là một ngành khoa học độc lập trong hệ thống các ngành khoa học xã hội, vì thế nó có nhiệm vụ chính là tập trung nghiên cứu các hiện tượng nhà nước và pháp luật, bao gồm: những phạm trù, nguyên lý, kết luận chung về hiện tượng nhà nước và pháp luật nhằm nhận thức, giải thích nhà nước và pháp luật nói chung, tạo tiền đề và cơ sở để giải quyết các vấn đề của khoa học pháp lý cụ thể và hoạt động thực tiễn. Như vậy, lý luận về nhà nước và pháp luật là một ngành khoa học xã hội bao gồm một hệ thống các kiến thức lý luận về nhà nước và pháp luật nói chung. Hệ thống các kiến thức đó bao gồm các học thuyết, phạm trù, nguyên tắc, khái niệm, quan điểm khoa học. được sắp xếp, phân bố theo một trình tự lô gích nhất định cấu thành khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật.Vị trí của khoa học lý luận trong hệ thống các khoa học xã hội Với tư cách là một ngành khoa học xã hội, lý luận về nhà nước và pháp luật không tồn tại một cách biệt lập với các ngành khoa học xã hội khác mà nó có mối quan hệ mật thiết, qua lại, tác động chặt chẽ với các ngành khoa học xã hội khác. Bởi thế, trong nghiên cứu nhà nước và pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật phải dựa và tổng thể những kiến thức khoa học, dựa vào phương pháp khoa học của nhiều khoa học xã hội khác, nhất là mối liên hệ với triết học, kinh tế chính trị học và chính trị học. Triết học (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) với tính cách là thế giới quan của khoa học hiện đại có vai trò đặc biệt to lớn đối với lý luận về nhà nước và pháp luật. Trong mối liên hệ với triết học duy vật biện chứng, triết học duy vật biện chứng đã trang bị cho lý luận về nhà nước và pháp luật phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu. Đối với triết học duy vật lịch sử, lý luận về nhà nước và pháp luật là sự tiếp tục trực tiếp các nguyên lý triết học chung của chủ nghĩa duy vật lịch sử về bản chất của nhà nước và pháp luật, sự tác động qua lại của nhà nước và pháp luật với cơ sở kinh tế và sự biến đổi của chúng theo sự phát triển của đời sống xã hội. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là một bộ phận của triết học, là khoa học về các quy luật chung nhất của sự phát triển của tất cả các hiện tượng xã hội, còn đối tượng của lý luận về nhà nước và pháp luật chỉ là những quy luật của một bộ phận các hiện tượng xã hội ấy, đó là nhà nước và pháp luật. Kinh tế học chính trị là khoa học về những quy luật quan hệ sản xuất - cơ sở kinh tế của xã hội. Những khái niệm của kinh tế chính trị học như: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, sở hữu. có ý nghĩa to lớn đối với lý luận về nhà nước và pháp luật. Bởi lẽ, lý luận về nhà nước và pháp luật nghiên cứu nhà nước và pháp luật là những hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội, kinh tế chính trị học nghiên cứu những yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng, vì thế lý luận chung về nhà nước và pháp luật sử dụng những kiến thức của khoa học kinh tế chính trị để làm rõ đối tượng nghiên cứu của mình. Chính trị học nghiên cứu các quy luật và tính quy luật trong sự hình thành, phát triển của chính trị, của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước cùng những cơ chế, phương thức, cách thức sử dụng các quy luật đó trong xã hội được tổ chức thành nhà nước. Khách thể nghiên cứu của chính trị học là tất cả những gì mà khi giải quyết chúng liên quan đến lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia. Có thể hiểu chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng, các quốc gia, các dân tộc; là sự tham gia của nhân dân vào giải quyết các công việc của nhà nước và của xã hội, là tổng hợp những phương hướng, những mục tiêu được quy định bởi lợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là thực tiễn hoạt động chính trị của các giai cấp, các đảng phái, nhà nước để thực hiện đường lối đã được lựa chọn nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Khách thể nghiên cứu của lý luận về nhà nước và pháp luật chỉ là nhà nước và pháp luật với tính cách là một bộ phận của đời sống chính trị. Nghiên cứu nhà nước và pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật cần sử dụng những khái niệm của chính trị học như: quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, quyền lực nhân dân, quan hệ chính trị, quan hệ giai cấp, đảng phái. Không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với các ngành khoa học xã hội nói trên, lý luận về nhà nước và pháp luật còn có mối quan hệ mật thiết với các ngành khoa học pháp lý khác thuộc hệ thống khoa học pháp lý. Hệ thống khoa học pháp lý là một chỉnh thể tạo nên một lĩnh vực chuyên biệt của nhận thức đó là luật học. Hệ thống có thể chia ra làm 3 nhóm theo những tính chất riêng: Thứ nhất, các khoa học lý luận - lịch sử pháp lý gồm: lý luận về nhà nước và pháp luật, lịch sử nhà nước và pháp luật, lịch sử các học thuyết chính trị - pháp lý. Thứ hai, các khoa học pháp lý chuyên ngành gồm: luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng hình sự, luật tố tụng dân sự, luật tài chính, luật kinh tế. Thứ ba, các khoa học pháp lý ứng dụng gồm: điều tra tội phạm, thống kê tư pháp, tâm lý tư pháp, tội phạm học v. Giữa lý luận về nhà nước và pháp luật và các ngành khoa học pháp lý khác có mối quan hệ biện chứng. Trong mối quan hệ này, lý luận về nhà nước và pháp luật đóng vai trò là khoa học pháp lý cơ sở. Những kết luận của của nó tạo nên cơ sở để các ngành khoa học pháp lý khác nghiên cứu đối tượng của mình, là phương pháp luận cho việc nghiên cứu của các ngành khoa học pháp lý. Những kết luận, nguyên lý của lý luận về nhà nước và pháp luật được ứng dụng trong việc nghiên cứu các vấn đề riêng của các ngành luật. Mặt khác, lý luận về nhà nước và pháp luật lại dựa trên những tư liệu cụ thể của các khoa học pháp lý chuyên ngành, ứng dụng để khái quát nâng lên thành những nguyên lý, những phạm trù lý luận về nhà nước và pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ