CHƯƠNG 1: CUỘC ĐỜI VÀ VĂN NGHIỆP CỦA ĐẠM PHƯƠNG NỮ SỬ 1. Cuộc đời Đạm Phương nữ sử Đạm Phương nữ sử sinh năm Tân Tỵ (1881) tại Phủ Tôn Nhơn, kinh đô Huế. Bà có tên thật là Công Nữ Đồng Canh, tự là Quý Lương. Sau khi lấy chồng, có con, bà được vua Thành Thái vời vào cung làm chức nữ sử dạy cung tần, mỹ nữ trong cung.
Nữ sử là một chức quan mà bà từng đảm nhiệm nên bà lấy bút hiệu là Đạm Phương nữ sử. Ngoài ra bà còn có các bút hiệu sau: Đạm Phương nữ sĩ, Đạm Phương, Đ.P,… Đạm Phương là con gái của Hoàng Hóa Quận Vương Nguyễn Miên Triện, là Quận chúa (cháu nội vua Minh Mạng). Thân phụ Đạm Phương là hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng, thụ tước Hoàng Hóa Quận Vương. Năm 1891 ông phụng chỉ vua Thành Thái dẫn sứ bộ triều đình Huế sang công vụ tại nước Cộng hòa Pháp.
Trong chuyến đi này, ông có dịp mua được một số sách vở về Lịch sử văn minh văn hóa Pháp, Cách mạng Pháp 1789, các sách của Jean – Jacques Rousseau (1712 – 1778), Voltaire (1694 – 1778) viết về tự do, dân chủ, nhân quyền. Ông cũng là người nổi tiếng hay chữ với hai tập sách: “Ước đình thi sao”,viết bằng chữ Hàn, gồm khoảng 300 bài và một tập thơ Nôm là “Ất Sửu Như Tây Nhật ký”. Ông mất ngày 4 tháng 4 năm Ất Tỵ (7/5/1905), thọ 73 tuổi. Ông chỉ có hai người con gái, trong đó có bà Đạm Phương là thứ nữ, do vậy ông đã dành tình yêu thương và công sức dạy dỗ cho các bà chẳng khác gì con trai.
Mẹ của Đạm Phương là Tài Nhân Trần Thị Thanh, cho đến nay vẫn chưa có tư liệu gì về dòng dõi bên ngoại của Đạm Phương nên chưa rõ về thân thế của bà Trần Thị Thanh. Là người thông minh, Đạm Phương được mẹ dạy cho chữ Hán từ rất 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sớm, sau đó gia đình lại mời thầy đồ Nghệ dạy thêm. Tuy sinh ra trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm chiếm, cai trị nhưng do xuất thân trong hoàng tộc nên Công Nữ Đồng Canh được thừa hưởng đặc quyền, đặc lợi, và được thừa hưởng truyền thống văn học, giáo dục tốt đẹp của hoàng tộc. Vì thế, ngay từ thời ấu thơ, Công Nữ Đông Canh đã được dưỡng dục quy củ và đến thời niên thiếu đã được học hành nghiêm túc cả Hán văn, Pháp văn và quốc ngữ.
Bà còn được vào phủ chúa học cầm, kỳ, thi, họa, thêu thùa, cắt may, nấu nướng. Đó là những kiến thức nền tảng cơ bản đã kết tinh thành vốn văn hóa vững chắc mà Đạm Phương có được khi trưởng thành. Năm 1890, bà theo gia đình sống ở “Học bạn tinh xá” (nay ở Phường Thủy Xuân, Huế) và theo học công chúa Quy Đức tại phủ Vĩnh Trinh. Trong thời thiếu nữ, bà đã có hai tập thơ chữ Hán là “Đông quán thi tập” và “Tú dư xích độc”.
Năm 1897, Công Nữ Đồng Canh tròn 16 tuổi và lập thân với ông nghè tập ấm Nguyễn Khoa Tùng (Hậu duệ thứ 6 của Nguyễn Khoa Chiêm (1659 - 1736), quê gốc Hải Dương, nay thuộc Xã Lê Lợi, Huyện An Hải, Hải Phòng, tác giả Nam triều công nghiệp diễn chí1 – Tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của nước ta). Bà sinh con gái đầu lòng là Nguyễn Khoa Diệu Nhơn. (Chữ Diệu lót tên con gái trong nhiều gia đình dòng họ Nguyễn Khoa bắt đầu từ bà Diệu Nhơn. Trong cuộc sống, hai vợ chồng bà Đạm Phương và ông Nguyễn Khoa Tùng rất tâm đầu ý hợp, thường cùng nhau xướng họa thơ văn nên có chung một tập thơ chữ Hán lấy tên là “Hiệp Bích thi cảo”.
Năm 1898, bà sinh người con gái thứ hai là Nguyễn Khoa Diệu Duyên, năm 1900 bà sinh người con trai đầu là ông Nguyễn Khoa Tú. Năm 20 tuổi bà được mời vào cung để dạy công chúa và cung nữ học tập. Tên Đạm Phương nữ sử ra đời từ 1 Sách ra đời năm 1720, năm 1984 dịch từ Hán văn sang Việt văn, tới nay tái bản ba lần, 1994 Nxb Hội Nhà văn tái bản sách 632 trang khổ 13 x 19 cm. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Năm 1906, bà sinh ông Nguyễn Khoa Văn tức Hải Triều. Năm 1914, bà sinh người con thứ năm là ông Nguyễn Khoa Châu (Hải Châu). Năm 1918, bà sinh người con gái út là bà Nguyễn Khoa Diệu Vân. Tháng 4 năm 1918, bà tiếp kiến ông Phạm Quỳnh, chủ bút báo Nam Phong đến thăm.
Sau chuyến thăm Huế này, Phạm Quỳnh có bài du ký “Mười ngày ở Huế” có nhắc đến cuộc tiếp xúc đó. Có lẽ Nam Phong là tờ báo đầu tiên thu hút bà vào con đường báo chí. Tháng 7 năm 1918, bà viết những bài báo đầu tiên cho Nam Phong (tạp chí xuất bản tại Hà Nội năm 1917), năm 1919, 1920 bà làm trợ bút cho nhật báo Trung Bắc tân văn (Xuất bản năm 1915 tại Hà Nội), giữ mục “Lời đàn bà” trên tờ Thực nghiệp dân báo (Xuất bản năm 1920, tại Hà Nội). Năm 1922 bà là biên tập viên nữ giữ mục “Văn đàn bà” trên tạp chí Hữu Thanh (Hà Nội).
Đây là khoảng thời gian bà thể hiện một bút lực dồi dào với hàng loạt những bài viết trên các báo lớn ở khắp ba miền Bắc – Trung – Nam. Ngày 25/5/1923, tiểu thuyết KTC của bà được đăng nhiều kỳ trên Trung Bắc tân văn. Năm 1923, bà cho đăng trên tạp chí Nam Phong bài viết “Khảo cứu về tuồng hát An Nam”. Ngày 3/2/1926, trên tờ Thực nghiệp dân báo, bà viết bài “Nữ lưu với ông Phan Bội Châu”.
Chính vì những đóng góp về văn hóa văn học đó mà năm 1925, bà được chính quyền Nam triều thưởng Kim Tiền (một hình thức khen thưởng vì những đóng góp về văn hóa). Trong khoảng thời gian này, bà cũng tiếp xúc với các nhà chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,…Năm 1926, tại lễ truy điệu Phan Chu Trinh ở Huế, bà được ủy nhiệm đọc bài văn tế do cụ Phan Bội Châu soạn. Năm 1926 đến 1927, cụ Huỳnh Thúc Kháng xúc tiến việc xin ra báo Tiếng Dân, tờ nhật báo đầu tiên ở Trung kỳ, lấy nhà hai ông bà Nguyễn Khoa Tùng – Đạm Phương ở Đập Đá, Vỹ Dạ làm địa chỉ liên lạc với nhà nước bảo hộ. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngày 15/6/1926, sau nhiều tháng chuẩn bị, NCHH đã ra đời và lễ khánh thành được tổ chức long trọng tại Huế.
Sau đó, Đạm Phương đã dành thời gian mở rộng giao lưu tiếp xúc với các bậc nhân sỹ trí thức, các giới nữ lưu ở cả ba miền để tìm hiểu học hỏi. Bà đã đến Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Mỹ Tho, Gò Công, Thanh Hóa… để bàn bạc về giáo dục phụ nữ, liên kết mở rộng hoạt động nữ công và báo chí xuất bản. Năm 1927, NCHH xuất bản quyển “Nữ quốc dân tu tri” của Phan Bội Châu do cụ tặng khi còn ở dạng bản thảo. Năm 1928, bà cho ra mắt công trình khảo cứu “Bàn về giáo dục con gái”.
Trong các năm 1928, 1929, 1931 bà cùng các cô giáo của NCHH cho xuất bản ba tập “Nữ công thường thức”, ghi lại những bài giảng về nữ công để phổ biến rông rãi cho nữ giới. Năm 1928, Đạm Phương nữ sử soạn tác phẩm “Phụ nữ dự gia đình” do Nữ lưu Thư quán Gò Công xuất bản. Năm 1929, bà cũng xuất bản tiểu thuyết “Hồng phấn tương tri” tại Nữ lưu thơ quán, Gò Công, số lượng 10. Sau 10 năm làm việc rất sôi nổi (1920 – 1930) thì từ năm 1930 đến 1945 hoạt động của bà trầm lắng hơn.
Những năm này đã xuất hiện những tình huống chính trị xã hội và hoàn cảnh gia đình khiến bà không sống và làm việc như cũ. Về xã hội, sự có mặt những tổ chức chính trị tiền thân và tiếp đó sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương đã làm cục diện chính trị thay đổi; thế hệ chống thực dân Pháp bây giờ không còn là những người gần gũi về học thức và chí hướng với bà như: Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Khắc Hiếu,… mà là một lớp trẻ hơn như Phan Đăng Lưu, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Diểu, Trần Huy Liệu và cả con trai bà là Hải Triều Nguyễn Khoa Văn. Đời sống báo chí vẫn rất sôi nổi nhưng các tờ báo phụ nữ xuất hiện trước và sau năm 1930 đều nhanh chóng chìm lắng. Đặc biệt, sự đàn áp của thực dân cũng trở nên khốc liệt hơn.
Gia đình bà là đối tượng bị truy xét. Đầu tháng 8 năm 1929, bà bị bắt, nhà cửa bị lục soát. Mật thám 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp nghi ngờ bà quan hệ với Đảng Tân Việt. Lúc đầu bà bị giam ở khu thường phạm, sau đó giam trong khu tù nhân chính trị tại lao Thừa Phủ.
Tháng 9 năm 1929, bà ra tù mà không có án, ngay sau đó bà từ chức Hội trưởng NCHH. Tuy nhiên bà vẫn cộng tác và thường xuyên lui tới Hội. Sự kiên năm 1942, Nam Phương hoàng hậu đến thăm NCHH, sau đó bà Đạm Phương đã vào cung đáp lễ chứng tỏ Đạm Phương vẫn là linh hồn của Hội. Tháng 1/1930, Hải Triều con trai bà bị bắt ở Đò Trai (Hà Tĩnh), trong lúc chuẩn bị họp hội nghị toàn quốc của Đảng Tân Việt, sau đó được thả.
Ngày 10/7/1930 bầu nghị viện dân biểu Trung kỳ nhiệm kỳ 1930 – 1934, ông Nguyễn Khoa Tùng ra ứng cử nhưng không trúng cử. Năm 1931, tại Sài Gòn, ông Nguyễn Khoa Tú, con trai đầu của bà Đạm Phương bị Pháp bắt và bị tra khảo đến chết, tiếp đó, Hải Triều cũng bị bắt và giải ra Huế làm án, tháng 7/1932, Hải Triều được thả tự do nhưng vẫn bị quản thúc tại gia. Năm 1932, ông Nguyễn Khoa Tùng, chồng bà đau buồn vì hoàn cảnh gia đình cũng ốm chết. Những ràng buộc của hoàn cảnh cộng thêm những tang tóc trong gia đình làm bà suy sụp về tinh thần.
Bà lập một cái am thờ Phật bằng tranh lấy tên “Quan tâm tịnh thất” gần mộ chồng, hằng ngày đọc kinh, thắp hương cho ông. Ba năm sau (1935) mộ ông Nguyễn Khoa Tùng được xây dựng thành lăng, bà mới giảm việc lui tới. Bà cũng dành nhiều thời gian cho sinh hoạt Phật giáo như một cư sĩ tại gia, thường viếng chùa, đàm đạo Phật học, dịch kinh sách cho các chùa.