Chương 1 đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến nợ công, nợ quốc gia, nợ nước ngoài của chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia; các nghiên cứu trong và ngoài nước về nợ công và bền vững nợ công cũng như khuôn khổ đánh giá công tác quản lý nợ công được chấp nhận phổ biến hiện nay. Nhận định của tác giả là mặc dù các nghiên cứu liên quan đến nợ công và bền vững nợ công cũng như về các cuộc khủng hoảng nợ là tương đối rộng song dường như chưa có kết luận thấu đáo về bền vững nợ công và các yếu tố ảnh hưởng, hay nói cách khác, tính bền vững nợ công và các yếu tố ảnh hưởng có chung một khuôn khổ lý thuyết nhưng nó lại phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị và cơ chế quản lý của từng quốc gia. Đối với Việt Nam, các nghiên cứu về an toàn bền vững nợ công dường như thiếu vắng và chưa có câu trả lời nào về thực trạng cũng như đánh giá có hệ thống về các yếu tố ảnh hưởng đến bền vững nợ. Về quản lý nợ công, ngoài các báo cáo của cơ quan có thẩm quyền, chưa có nghiên cứu độc lập nào về quản lý nợ công bền vững.
Chương 2 hệ thống hóa và chuẩn xác các khái niệm liên quan đến nội dung phân tích về nợ công và bền vững nợ công; trên cơ sở đó, khái quát và tổng hợp khuôn khổ lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến bền vững nợ công và khung khổ đánh giá quản lý nợ công để tham khảo cho các phân tích tiếp theo của Luận án. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 3 tổng kết kinh nghiệm quốc tế về nợ công bền vững thông qua đánh giá một số cuộc khủng hoảng gần đây, cụ thể là: cuộc khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ ở các nước Nam Mỹ những năm 1980; cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á những năm cuối 1990 và; cuộc khủng hoảng nợ công mới đây ở các nước Châu Âu. Chương này cũng nghiên cứu kinh nghiệm cụ thể của 4 quốc gia theo hình thức nghiên cứu tình huống để đánh giá kinh nghiệm được và chưa được trong quản lý nợ công bền vững ở các quốc gia cụ thể đó cùng với kinh nghiệm tổng quát về các cuộc khủng hoảng nợ, khủng hoảng tài chính ở nhóm các quốc gia và ở các thời kỳ khác nhau như trên. Trên cơ sở đó, chương này rút ra những bài học kinh nghiệm có thể tham khảo và những bài học nên tránh trong việc đảm bảo nợ công bền vững nói chung và đối với Việt Nam nói riêng.
Chương 4 đánh giá nguồn gốc phát sinh, diễn biến nợ công của Việt Nam trong khoảng 30 năm qua để thấy được vai trò của nợ công đồng hành với quá trình cải cách, mở cửa và phát triển kinh tế của Việt Nam; đồng thời, trên cơ sở khuôn khổ phân tích tại Chương 2 và kinh nghiệm quốc tế ở Chương 3, đánh giá các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến nợ công bền vững ở Việt Nam hiện nay thông qua mô hình phân tích định lượng về mối quan hệ động về nợ bền vững (mô hình DSA - Debt Sustainability Analysis). Trên phương diện quản lý, căn cứ các chỉ tiêu đánh giá của Ngân hàng Thế giới theo khuôn khổ phân tích chất lượng quản lý nợ (DeMPA - Debt Management Performance Analysis), trên phương diện những ảnh hưởng đến bền vững nợ công của khuôn khổ tổ chức và pháp lý đối với quản lý nợ công, tác giả đánh giá về khuôn khổ tổ chức và pháp lý của Việt Nam đối với công tác này nhằm chỉ ra những bất cập. Phần cuối của chương này và phần kết luận của Luận án khái quát các vấn đề nghiên cứu của tác giả tại Luận án và đề xuất các ý kiến đối với việc đảm bảo nợ công bền vững nói chung đối với các quốc gia và khuyến nghị cụ thể đối với Việt Nam nhằm đảm bảo nợ công an toàn, bền vững trong trung và dài hạn. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.
Nội dung tổng quan 1. Về sự hình thành nợ công và mối quan hệ giữa nợ công với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Về nợ công và ngân sách: N. Gregory Mankiw, William Scarth (1995) và các tác giả khác nghiên cứu về chủ đề kinh tế vĩ mô, nợ công đã khái quát hóa các quan điểm kinh tế học về sự hình thành nợ công. Quan điểm truyền thống về nợ công cho rằng việc Chính phủ vay nợ để tài trợ cho thâm hụt ngân sách sẽ làm tăng tổng cầu trong ngắn hạn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, chưa có đánh giá thấu đáo về tác động dài hạn của việc vay nợ của chính phủ cũng như chưa đề cập được đến khả năng vay nợ, thời hạn cũng như tác động lâu dài của việc vay nợ lên cán cân thanh toán, lãi suất và xa hơn là sự an toàn nợ. Nhìn chung, lý thuyết cơ bản về kinh tế vĩ mô chưa lý giải về tính bền vững nợ công trong trung và dài hạn: các chính phủ có thể vay nợ đến bao giờ, ở quy mô, mức độ nào mà không làm ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt là lãi suất và an toàn của hệ thống kinh tế. Quan điểm của những người theo Trường phái Ricardo về nợ công cho rằng, mặc dù cùng thống nhất cơ bản về các vấn đề lý thuyết về sự hình thành nợ công, mối quan hệ giữa cân đối ngân sách, thuế … nhưng trường phái Ricardo dựa trên giả định chủ yếu về hành vi của người nộp thuế và người tiêu dùng và giả định về “thu nhập dài hạn”, theo đó ngân sách của cá nhân gồm nhiều thời kỳ, các cá nhân biết được chính sách của chính phủ tác động thế nào đến “thu nhập dài hạn” do đó các chính sách tăng thuế hoặc vay nợ của chính phủ sẽ tác động đến tiêu dùng và đầu tư của cá nhân và do đó của toàn xã hội. Đi xa hơn, những người theo trường phái này đã lập luận về ngân sách nhiều thời kỳ và chỉ ra rằng, việc vay nợ có giới hạn nhất định và rằng cuối cùng thì ngân 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sách phải cân bằng, tức là việc vay nợ của thời kỳ này phải được bù đắp bằng thặng dư ngân sách ở một thời kỳ nhất định.
Những phản biện: ngoài ra, các nhà kinh tế cũng đã phản biện cả đối với quan điểm truyền thống về nợ công cũng như đối với các giả định của trường phái Ricardo về nợ công như: các giả định về nhận thức dài hạn của người nộp thuế là không thực tế; việc vay nợ của các chính phủ phục vụ đầu tư dài hạn; việc chưa tính đếm đến các yếu tố vĩ mô khác như lãi suất, lạm phát, yếu tố kinh tế mở trong phân tích về nợ chính phủ. Có một lý thuyết về nợ công được xây dựng với giả định rằng theo giả thuyết bất biến của Ricardo (Ricardian Invariance Theorem) là đúng, và là giả định trực tiếp và trong đó sự phụ thuộc liên quan đến về gánh nặng thuế theo thời gian có hàm ý rằng cần có một tiến trình phát hành nợ chính phủ theo thời gian một cách tối ưu (optimal time path of debt issue). Giả thuyết trọng tâm ở đây là, thâm hụt ngân sách sẽ biến thiên nhằm đảm bảo độ ổn định về các mức thuế suất. Ứng xử này hàm ý rằng sẽ có tác động làm tăng phát hành nợ do tăng chi ngân sách ngắn hạn (chẳng hạn trong thời chiến), do các biện pháp giải quyết các vấn đề về chu kỳ kinh tế dẫn đến phải vay nợ trong giai đoạn có biến động về thu ngân sách và/hoặc tác động của lạm phát (tương lai) lên tốc độ tăng nợ danh nghĩa.
Việc phát hành nợ mới không chịu ảnh hưởng về tỷ lệ nợ công hiện hành so với tổng thu ngân sách, ngoại trừ chịu tác động không đáng kể từ mức chi tiêu của chính phủ. Các giả định của lý thuyết này được kiểm chứng trên dữ liệu thực tế của nền kinh tế Mỹ giai đoạn sau Thế chiến thứ nhất. Kết quả kiểm chứng về cơ bản tuân theo đúng giả định lý thuyết. Kiểm chứng cũng cho kết quả là có một nhóm các biến số tác động đến dao động về mức nợ công của Mỹ từ những năm 1920.
Robert Barro (1974) đã thảo luận lý thuyết tương đương theo trường phái Ricardo về nợ công (Ricardian invariance theorem on public debt), tức là lý thuyết cho rằng sự thay đổi giữa việc tăng thuế và phát hành nợ cho mục đích chi ngân sách với một khối lượng nhất định nào đó sẽ không có ảnh hưởng tức thời (first- order effect) đến lãi suất thực, đầu tư tư nhân và các yếu tố khác. Lý thuyết này tuy 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com còn gây tranh cãi mặc dù có vẻ như nó ngày càng chứng minh được sự đúng đắn. Dù sao đi nữa, những người ủng hộ trường phái Ricardo, rằng việc lựa chọn giữa vay nợ và thuế không quan trọng, do đó chưa thống nhất được lý thuyết về sự hình thành nợ công. Tại nghiên cứu này, Barro xây dựng một lý thuyết đơn giản về tài chính công “tối ưu”, xác định ra một số nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn giữa tăng thuế và phát hành nợ công.
Mô hình ở đây chấp nhận Lý thuyết bất biến của Ricardo về giả định tác động tức thời (first - order effects) tuy nhiên mô hình này cũng giới thiệu các tác động thứ cấp (second-order effect) liên quan đến mức độ vượt quá về ghánh nặng thuế nhằm tìm ra mức độ vay nợ tối ưu (optimal amount of debt creation). Nghiên cứu này loại ra ngoài những đặc tính điển hình về phân tích tác động của của nợ công như: chuyển ghánh nặng thuế sang thế hệ tương lai; giảm đầu tư tư nhân (crowding out effect), với giả định rằng nhận định của Ricardo là đúng với ảnh hưởng tức thời - nếu các tác động ảnh hưởng đó là có và thực tế gắn với lựa chọn giữa thuế và nợ công. Mô hình lý thuyết được sử dụng để đưa ra một số nhận định có thể kiểm chứng liên quan đến những yếu tố quyết định việc phát hành nợ công.