Luận văn thạc sĩ ueh niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ phần trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ phần trên sở giao dịch chứng khoán thành phố, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2008

98
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1. Công ty cổ phần

1.2. Khái niệm công ty cổ phần

1.3. Đặc điểm của công ty cổ phần

1.4. Cơ chế hoạt động của công ty cổ phần

1.5. Tác động của công ty cổ phần

1.5.1. Tác động của CTCP đến nền kinh tế

1.5.2. Tác động của CTCP đến thị trường chứng khoán

1.6. Ngân hàng thương mại cổ phần

1.7. Khái niệm ngân hàng thương mại cổ phần

1.8. Hoạt động chính của ngân hàng thương mại cổ phần

1.9. Thị trường chứng khoán

1.10. Khái niệm thị trường chứng khoán

1.11. Chức năng của thị trường chứng khoán

1.12. Phân loại thị trường chứng khoán

1.13. Các thành phần tham gia vào thị trường chứng khoán

1.14. Niêm yết cổ phiếu

1.14.1. Khái niệm niêm yết

1.14.2. Phân loại niêm yết

1.14.3. Điều kiện niêm yết tại Sở Giao Dịch chứng khoán

1.14.4. Điều kiện niêm yết của một số nước

1.14.5. Điều kiện niêm yết của Việt Nam

1.14.6. Thủ tục niêm yết

1.14.7. Thủ tục niêm yết ở một số nước

1.14.8. Thủ tục niêm yết ở Việt Nam

1.14.9. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

1.15. Sự cần thiết phải niêm yết cổ phiếu trên TTCK

1.16. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TPHCM

2.1. Thực trạng hoạt động của SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh

2.2. Quy mô niêm yết tại HOSE

2.3. Quy mô giao dịch tại HOSE

2.4. Sự tham gia của các nhà đầu tư

2.5. Giá trị vốn hóa của cổ phiếu tại HOSE

2.6. Diễn biến của VN-Index

2.7. Hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian

2.8. Thực trạng hoạt động của các NHTMCP tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.8.1. Tốc độ tăng trưởng huy động vốn

2.8.2. Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản

2.8.3. Tốc độ tăng trưởng tín dụng

2.8.4. Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận

2.8.5. Tốc độ tăng trưởng vốn tự có

2.8.6. Xếp loại ngân hàng

2.9. Quá trình cổ phần hóa các NHTMNN

2.9.1. Vấn đề đặt ra

2.9.2. Tiến trình thực hiện

2.9.3. Cổ phần hóa VCB và MHB

2.9.4. Cổ phần hóa BIDV và ICB

2.9.5. Xu hướng sắp tới

2.10. Thực trạng niêm yết CP của các NHTMCP trên HOSE

2.10.1. Thực trạng niêm yết CP của NHTMCP Sài Gòn Thương tín trên HOSE

2.10.2. Những vấn đề thường gặp sau niêm yết

2.10.3. Thuận lợi và khó khăn

2.10.3.1. Về văn bản pháp lý
2.10.3.2. Những thuận lợi xuất phát từ nội tại các NHTMCP
2.10.3.3. Những vấn đề thuộc về nội tại của ngân hàng

2.11. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT CỔ PHIẾU TRÊN HOSE

3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển TTCK đến năm 2010

3.1.1. Định hướng phát triển

3.1.2. Định hướng phát triển của thị trường chứng khoán

3.1.3. Định hướng phát triển đối với lĩnh vực ngân hàng

3.2. Giải pháp thúc đẩy các NHTMCP niêm yết CP trên HOSE

3.2.1. Nhóm giải pháp chung

3.2.1.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý về niêm yết
3.2.1.2. Hoàn thiện chính sách niêm yết

3.2.2. Nhóm giải pháp cụ thể

3.2.2.1. Nhóm giải pháp để bảo đảm an toàn trong hoạt động của các NHTM
3.2.2.1.1. Đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
3.2.2.1.2. Điều chỉnh giới hạn tín dụng đối với khách hàng theo Basel
3.2.2.1.3. Quản lý tốt rủi ro tín dụng
3.2.2.1.4. Thực hiện tốt việc phân loại nợ
3.2.2.1.5. Đảm bảo tỷ lệ khả năng chi trả
3.2.2.1.6. Ban hành các quy định về rủi ro thị trường
3.2.2.1.7. Ban hành các quy định về rủi ro hoạt động
3.2.2.2. Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chức năng giám sát của NHNN đối với NHTM cũng như chức năng tự giám sát của các NHTM
3.2.2.2.1. Hoàn thiện chức năng giám sát của NHNN
3.2.2.2.2. Hoàn thiện chức năng tự giám sát của các NHTMCP
3.2.2.3. Nhóm giải pháp liên quan đến công bố thông tin của các NHTM
3.2.2.4. Giải pháp hỗ trợ các NHTMCP sau niêm yết

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

PHỤ LỤC; TÀI LIỆU THAM KHẢO; DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

Tóm tắt

I. Tổng quan về niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần

Niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) là một bước quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch và khả năng huy động vốn của các ngân hàng. Việc niêm yết không chỉ giúp ngân hàng tăng cường uy tín mà còn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán. Điều này góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.

1.1. Khái niệm niêm yết cổ phiếu ngân hàng

Niêm yết cổ phiếu ngân hàng là quá trình đưa cổ phiếu của ngân hàng lên sàn giao dịch chứng khoán, cho phép cổ đông và nhà đầu tư giao dịch cổ phiếu này. Điều này giúp tăng tính thanh khoản và tạo cơ hội cho ngân hàng huy động vốn từ thị trường.

1.2. Lợi ích của việc niêm yết cổ phiếu ngân hàng

Việc niêm yết cổ phiếu mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng như tăng cường khả năng huy động vốn, nâng cao uy tín và tạo điều kiện cho việc phát triển các sản phẩm tài chính mới. Đồng thời, nó cũng giúp ngân hàng cải thiện quản trị và minh bạch hóa thông tin.

II. Thách thức trong niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần

Mặc dù niêm yết cổ phiếu mang lại nhiều lợi ích, nhưng các ngân hàng thương mại cổ phần cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này bao gồm yêu cầu về minh bạch thông tin, quy định pháp lý và cạnh tranh từ các ngân hàng khác. Việc đáp ứng các tiêu chuẩn niêm yết là một nhiệm vụ không hề đơn giản.

2.1. Quy định pháp lý về niêm yết cổ phiếu

Các ngân hàng phải tuân thủ nhiều quy định pháp lý nghiêm ngặt để được niêm yết cổ phiếu. Điều này bao gồm việc công bố thông tin tài chính định kỳ và đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh.

2.2. Cạnh tranh trong thị trường chứng khoán

Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại cổ phần trên thị trường chứng khoán ngày càng gia tăng. Các ngân hàng cần phải có chiến lược rõ ràng để thu hút nhà đầu tư và duy trì vị thế cạnh tranh.

III. Phương pháp niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần

Để niêm yết cổ phiếu thành công, các ngân hàng thương mại cổ phần cần thực hiện một số phương pháp nhất định. Những phương pháp này bao gồm việc chuẩn bị hồ sơ niêm yết, thực hiện kiểm toán và công bố thông tin đầy đủ. Điều này giúp đảm bảo rằng ngân hàng đáp ứng đủ các tiêu chuẩn niêm yết.

3.1. Hồ sơ niêm yết cổ phiếu

Hồ sơ niêm yết bao gồm các tài liệu cần thiết như báo cáo tài chính, kế hoạch kinh doanh và thông tin về cổ đông. Việc chuẩn bị hồ sơ đầy đủ và chính xác là rất quan trọng để được chấp thuận niêm yết.

3.2. Kiểm toán và công bố thông tin

Các ngân hàng cần thực hiện kiểm toán độc lập để đảm bảo tính chính xác của thông tin tài chính. Công bố thông tin đầy đủ và kịp thời giúp tăng cường niềm tin của nhà đầu tư.

IV. Ứng dụng thực tiễn của niêm yết cổ phiếu ngân hàng

Niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn cho cả thị trường chứng khoán. Việc này giúp tăng cường tính thanh khoản và đa dạng hóa sản phẩm tài chính trên thị trường. Đồng thời, nó cũng tạo cơ hội cho các nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán.

4.1. Tăng cường tính thanh khoản cho thị trường

Việc niêm yết cổ phiếu ngân hàng giúp tăng cường tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc mua bán cổ phiếu.

4.2. Đa dạng hóa sản phẩm tài chính

Sự xuất hiện của cổ phiếu ngân hàng trên thị trường chứng khoán giúp đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, từ đó tạo ra nhiều cơ hội đầu tư cho nhà đầu tư.

V. Kết luận về niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần

Niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM là một bước đi quan trọng trong việc phát triển thị trường tài chính Việt Nam. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn cho cả nhà đầu tư và nền kinh tế. Tương lai của niêm yết cổ phiếu ngân hàng sẽ phụ thuộc vào khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định của thị trường.

5.1. Tương lai của niêm yết cổ phiếu ngân hàng

Tương lai của niêm yết cổ phiếu ngân hàng sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường chứng khoán và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng. Các ngân hàng cần phải không ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ và minh bạch thông tin.

5.2. Đề xuất giải pháp cho niêm yết cổ phiếu

Để thúc đẩy niêm yết cổ phiếu ngân hàng, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thực hiện niêm yết.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ phần trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN. Công ty cổ phần. Khái niệm công ty cổ phần. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Cũng theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, CTCP là doanh nghiệp, trong đó: a. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.

Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. Đặc điểm của công ty cổ phần.

Do vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau nên mỗi cổ phần của công ty đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích như nhau. CTCP phải có cổ phần phổ thông; có thể có cổ phần ưu đãi (ưu đãi biểu quyết, ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại, ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định). Do loại hình CTCP chỉ giới hạn số lượng cổ đông tối thiểu mà không giới hạn số tối đa, nên khả năng số người tham gia góp vốn có thể rất lớn, tạo điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh, tăng lợi nhuận. Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốn đã góp vào CTCP, mức thiệt hại tối đa đối với các cổ đông chỉ dừng lại ở mức vốn mà họ đã góp vào công ty.

1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cổ đông phổ thông-người sở hữu cổ phần phổ thông-được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người không phải là cổ đông. Như vậy, loại hình CTCP có được khả năng “tự làm mới” mình cả về lượng và chất. Điều lưu ý ở đây là tính linh hoạt trong việc chuyển quyền sở hữu cổ phiếu giữa các cổ đông phổ thông với nhau hoặc giữa cổ đông phổ thông cũ với nhà đầu tư mới muốn trở thành cổ đông của CTCP; còn quá trình đó diễn ra dễ dàng hay khó khăn còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phải kể đến tính thanh khoản của loại cổ phiếu đó. Cơ chế hoạt động của công ty cổ phần.

Trong nền kinh tế hàng hóa, muốn tồn tại, phát triển và đủ sức cạnh tranh, các công ty phải tăng năng suất, giảm chi phí để hạ giá thành sản phẩm. Muốn thế họ phải không ngừng tìm tòi, nghiên cứu để cải tiến máy móc-thiết bị, nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ. Để thực hiện mục tiêu này, các công ty cần phải có nhiều vốn. Thấy được sự cần thiết đó, những công ty nhỏ đã thực hiện sáp nhập, liên kết lại với nhau và kết quả dẫn đến quá trình tập trung tư bản, biểu hiện rõ rệt nhất là sự ra đời của các CTCP.

CTCP có thể phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn. Ưu thế này càng làm cho loại hình CTCP có khả năng rất lớn trong việc tăng vốn. Ngoài những công ty hoạt động ở những ngành công nghiệp nặng cần đầu tư cho máy móc, thiết bị, hoặc những công ty muốn đa dạng hóa các ngành nghề kinh doanh, chiếm lĩnh thị trường, còn phải kể đến ngành kinh doanh tiền tệ là một trong những lĩnh vực mà loại hình CTCP được xúc tiến mạnh nhất, và kết quả là sự ra đời của hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần. Ngày nay, các CTCP thống trị trong nhiều ngành kinh tế với phạm vi bao trùm từ khâu cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất đến khâu sản xuất, lưu thông, dịch vụ, vận tải, xuất-nhập khẩu, tư vấn… Với các đặc điểm đã nêu, loại hình CTCP có lợi thế vượt bậc so với các hình thức công ty khác về phương thức huy động và sử dụng vốn.

Đây là hình thức tập trung tư bản tiến bộ và hiệu quả. Quá trình tập trung tư bản có thể diễn ra giữa các nhà đầu tư trong nước, hoặc giữa các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài hay thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước. Việc huy động vốn cho một CTCP bằng cách phát hành cổ phiếu bán cổ phần cho các cổ đông, ở một chừng mực nào đó, là biện pháp dễ dàng so với việc vay vốn ngân hàng. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Tác động của công ty cổ phần. Tác động của CTCP đến nền kinh tế. CTCP là mô hình kinh tế phổ biến và hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế hàng hóa. Không những nó ra đời sớm mà còn tồn tại và phát triển lâu dài cùng với sự tồn tại của các thành phần kinh tế.

Sự ra đời của loại hình công ty này đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, kết quả là nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Trên thế giới, điều này đã được minh chứng qua sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế các nước tư bản vào những năm đầu của thế kỷ 20. Ngày nay, với những thành tựu vượt bậc của khoa học-kỹ thuật và công nghệ, đòi hỏi phải xây dựng những công trình lớn, cơ sở hạ tầng hoàn thiện… thì không một nhà tư bản riêng lẻ nào có thể đảm nhận được khi nguồn vốn có giới hạn. Cách giải quyết hiệu quả nhất là tập trung vốn của nhiều nhà tư bản lại dưới hình thức thành lập CTCP -Nhân tố tạo vốn.

Ngay cả trong kinh doanh, dưới áp lực cạnh tranh gay gắt trên thị trường, số lượng công ty phá sản không ngừng tăng lên. Để tránh rủi ro, các công ty buộc phải đổi mới công nghệ; đa dạng hình thức kinh doanh, ngành nghề kinh doanh thông qua góp vốn với nhiều công ty khác nhau. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc tập trung tư bản mà còn có một lợi ích nữa đó là tập trung được năng lực trí tuệ, chất xám của nhiều người từ nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Từ đó tổng hợp, khai thác được nhiều thông tin, kinh nghiệm giúp cho việc quản lý và điều hành chiến lược đầu tư của công ty đi đúng hướng- Nhân tố nguồn nhân lực & công nghệ.

Theo lý thuyết về tăng trưởng kinh tế thì các nhân tố của sự tăng trưởng là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tạo vốn và đổi mới công nghệ. Sự xuất hiện của CTCP ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề cùng với sự thành công của nó đã tạo được phần lớn các nhân tố cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Chủ trương định hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta đã được nêu ra từ Đại hội VIII của Đảng và được khẳng định lại tại Đại hội IX, Đại hội X của Đảng. Theo đó, sự ra đời của các CTCP sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế tập thể, kinh tế cá thể; từng bước biến đổi làm gọn nhẹ kinh tế quốc doanh, cải thiện bộ máy của thành phần kinh tế quốc doanh theo hướng từ nặng nề, bao cấp sang năng động, tự chủ và hoạt động có hiệu quả.

CTCP ra đời là một bước đệm cho quá trình 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tối ưu, nó là một tất yếu nhằm đáp ứng không những cho đòi hỏi tích tụ, tập trung vốn mà còn đáp ứng cho yêu cầu cấp bách trong khâu tổ chức quản lý và điều hành nền kinh tế có hiệu quả. Tác động của CTCP đến thị trường chứng khoán. Để huy động và khơi thông mọi nguồn vốn trong nước, khuyến khích tiết kiệm trong dân cư, thu hút mọi nguồn vốn đầu tư là phải tạo ra một thị trường tài chính đồng bộ, bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường chứng khoán-một bộ phận của thị trường vốn-là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán các loại chứng khoán.

Thông qua TTCK, vốn trong nền kinh tế sẽ được tập trung và chuyển dịch từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác. Để các thị trường này hoạt động được, trước tiên phải tạo ra hàng hóa-đó là các công cụ tài chính, trong đó phải kể đến CP của các CTCP. Khi trên TTCK chưa xuất hiện CP thì việc mua bán chứng khoán, sự dịch chuyển vốn từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác xảy ra không thường xuyên. Hàng hóa lúc đó chỉ giới hạn ở những trái phiếu, thương phiếu.

Những nhà đầu tư thận trọng luôn tìm kiếm thu nhập an toàn nên họ sẵn sàng tìm đến với trái phiếu của một vài công ty nào đó. Tuy nhiên, mức thu nhập mang lại không cao, chưa làm thỏa mãn những nhà đầu tư ưa thích mạo hiểm. Sự chuyển dịch vốn đầu tư của nhà đầu tư từ loại trái phiếu này sang loại trái phiếu khác cũng không nhiều, bởi tính tương đối ngang bằng về mặt lãi suất cũng như về mức độ an toàn của các loại trái phiếu. Đối với những nhà đầu tư năng động, nếu chỉ giới hạn ở những hàng hóa như trái phiếu, thương phiếu thì chưa đủ.

Họ đòi hỏi trong danh mục đầu tư của mình không chỉ những hàng hóa đa dạng về lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh mà còn phải đa dạng về chủng loại. Sự ra đời của loại hình CTCP với việc phát hành CP đã làm thay đổi bộ mặt của TTCK. Điều đầu tiên có thể nói đến đó là thị trường đã được bổ sung thêm một loại hàng hóa mới, nó bao trùm hầu hết các ngành nghề trong nền kinh tế; tiếp đến là sự xuất hiện của các nghiệp vụ phái sinh từ các hàng hóa này như mua/bán quyền được mua CP; quyền chọn mua; quyền chọn bán, hợp đồng tương lai… Điều này đã thỏa mãn được kỳ vọng và tính ưa mạo hiểm của những nhà đầu tư năng động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ