Chương 1, tác giả đã làm rõ lý do lựa chọn đề tài của luận văn; xác định mục tiêu nghiên cứu, gồm: mục tiêu tổng quát và 03 mục tiêu cụ thể; đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Từ đó, đưa ra phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng và cuối cùng là kết cấu luận văn. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan 2.
Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi được định nghĩa là khoản tiền do các đơn vị thặng dư kinh tế như chủ hộ, công ty, nhà đầu tư và chính phủ đưa vào một tổ chức tài chính. Các khoản tiền này có thể từ tiền mặt, các khoản đòi tiền, như séc được đặt trong tài khoản của người gửi tiền, các khoản vay ngân hàng hoặc tiền từ các khoản đầu tư. Tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của năm hiện tại, không được sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Đây là khoản tiền gửi của bên thứ ba có thể rút ra bất cứ lúc nào và chỉ được rút trong một số điều kiện nhất định, bao gồm các hình thức gửi tiết kiệm tiền mặt, sổ tiết kiệm, chứng minh nhân dân.
Định nghĩa tiền gửi là khoản tiền mà khách hàng đặt tại ngân hàng và ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả theo yêu cầu, sau một khoảng thời gian cụ thể hoặc sau khi hết thời hạn thông báo bắt buộc. Tiền gửi là nguồn tài trợ chính của hầu hết các ngân hàng và do đó, có ảnh hưởng đáng kể đến tính thanh khoản của ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền gửi tại ngân hàng của những người muốn tích lũy một khoản tiền cho những mục tiêu hay những nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai và đồng thời cũng muốn hưởng thu nhập lãi từ khoản tiền gửi này (Rose và cộng sự, 2000). Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền tạm thời chưa sử dụng hoặc tiền tích lũy của cá nhân được gửi tại ngân hàng nhằm mục đích kiếm lợi tức (Lê Văn Tư, 2005).
Trong các loại tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm là loại chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn huy động của ngân hàng. Theo Trần Huy Hoàng (2012), tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền gửi của cá nhân vào ngân hàng với mục đích an toàn và sinh lời cho tài sản. Theo Bùi Diệu Anh (2013), tiền gửi tiết kiệm là một loại tiền gửi phi giao dịch, theo đó, cá nhân gửi tiền vào ngân hàng với mục đích an toàn cho tài sản và hưởng một khoản lãi theo thỏa thuận. Như vậy, tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại NHTM được hiểu là khoản tiền gửi của các cá nhân trong nền kinh tế gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và 8 sinh lời cho tài sản theo thỏa thuận với ngân hàng.
Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi của Ngân hàng thương mại cũng là một sản phẩm dịch vụ ngân hàng, nên bản thân sản phầm tiền gửi sẽ mang những đặc điểm sau: Độ ổn định của khoản tiền gửi tiết kiệm cao hơn so với tiền gửi giao dịch: Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động vốn chỉ áp dụng riêng cho khách hàng cá nhân. Khoản tiền gửi tiền kiệm của khách hàng cá nhân vào ngân hàng thường là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong một khoản thời gian xác định (Bùi Diệu Anh, 2013). Biến động của tiền gửi tiết kiệm thấp hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch. Quy mô nguồn tiền gửi tiết kiệm lớn: Khách hàng cá nhân thường có nguồn tiền nhàn rỗi khá phong phú, tùy theo tình hình tài chính của mỗi cá nhân.
Xét theo quy mô, nguồn tiền gửi tiết kiệm của mỗi cá nhân không nhiều nhưng xét về tổng thể, nguồn tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân là lớn (Nguyễn Minh Kiều, 2013). Chi phí huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng cao: Khi khách hàng gửi tiền gửi tiết kiệm, mục tiêu của khách hàng là đảm bảo sinh lời cho đồng vốn. Mối quan hệ giữa ngân hàng và cá nhân gửi tiền là mối quan hệ tín dụng, trong đó, ngân hàng là người đi vay còn khách hàng gửi tiền là người cho vay. Trong quan hệ tín dụng, người đi vay phải hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận.
Đồng thời, nguồn vốn này có tính ổn định cao, thời gian dài hơn so với tiền gửi thanh toán nên lãi suất phải trả cho các khoản tiền gửi tiết kiệm cao hơn (Nguyễn Minh Kiều, 2013). Hình thức trả lãi trong tiền gửi tiết kiệm là đa dạng: Để đáp ứng nhu cầu gửi tiền với mục đích sinh lời của khách hàng cá nhân, NHTM thường áp dụng đa dạng các hình thức trả lãi trong tiền gửi tiết kiệm bao gồm trả lãi trước, trả lãi định kỳ và trả lãi sau (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại NHTM Có nhiều tiêu chí để phân loại tiền gửi tiết kiệm tại NHTM, trong đó, các tiêu chí để phân loại được áp dụng phổ biến là theo thời hạn, theo loại tiền và theo hình thức trả 9 lãi (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013; Nguyễn Văn Tiến, 2013; Nguyễn Minh Kiều, 2013). Theo thời hạn Tiền gửi tiết kiệm nếu phân theo thời hạn được chia thành tiết gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Mỗi loại tiền gửi theo kỳ hạn có đặc điểm khác nhau. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi tiết kiệm khách hàng không xác định thời gian đáo hạn cụ thể nhưng không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng có thể gửi thêm vào tài khoản tiết kiệm nhiều lần cũng như không hạn chế số lần rút tiền, không tất toán sổ tiết kiệm sau mỗi lần giao dịch (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, ngân hàng áp dụng hình thức trả lãi định kỳ.
Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi tiết kiệm xác định kỳ hạn gửi rõ ràng có thể là 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng. và có thể lên đến 60 tháng. Đây cũng là hình thức gửi tiền áp dụng nhiều hình thức trả lãi nhất (Nguyễn Minh Kiều, 2013). Tuy nhiên, khách hàng không được gửi thêm tiền vào sổ tiết kiệm nếu chưa đến hạn tất toán.
Ngoài ra, khi khách hàng có nhu cầu rút tiền, khách hàng phải rút toàn bộ số tiền đã gửi, bao gồm gốc và lãi. Theo loại tiền Nếu phân theo loại tiền, các NHTM thực hiện huy động tiền gửi tiết kiệm theo đồng nội tệ và đồng ngoại tệ như USD, EUR. theo quy định của mỗi quốc gia. Việc phân loại tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền cho thấy mức độ đa dạng trong nguồn tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng, cũng như tạo cơ hội cho ngân hàng cho việc triển khai cấp tín dụng theo nhiều loại tiền hoặc phục vụ cho các hoạt động kinh donah tiền tệ khác (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013).
Theo hình thức trả lãi Nếu phân loại theo hình thức trả lãi, tiền gửi tiết kiệm có thể chia thành trả lãi trước, trả lãi định kỳ và trả lãi sau (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Trong đó, trả lãi trước là hình thức trả lãi mà ngay khi khách hàng gửi tiền khách hàng đã nhận được tiền lãi, nói cách khác đây là hình thức trả lãi đầu kỳ. Trả lãi định kỳ là hình thức khách hàng có thể 10 nhận tiền lãi vào cuối mỗi định kỳ theo tháng, theo quý. tùy theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng.
Trả lãi cuối kỳ là hình thức mà khách hàng chỉ nhận lãi khi tất toán khoản tiền gửi tiết kiệm. Vai trò tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại NHTM Nguồn tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các NHTM có vai trò quan trọng đối với ngân hàng, với khách hàng và với nền kinh tế. Nguồn tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng là nguồn vốn quan trọng trong vốn huy động để ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Thông qua quy mô của khoản mục tiền gửi tiết kiệm phản ánh phần nào uy tín của ngân hàng trên thị trường.
Khi uy tín của ngân hàng càng cao thì khách hàng cá nhân càng tin tưởng gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Tiền gửi tiết kiệm tại NHTM được xem như một khoản đầu tư sinh lời của khách hàng cá nhân. Đây là hình thức đầu tư được đánh giá là an toàn, ít rủi ro và không đòi hỏi nhiều thời gian, kiến thức như đầu tư chứng khoán, bất động sản. Ngoài ra, thông qua các khoản tiền gửi tiết kiệm, khách hàng còn dễ dàng tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ khác của ngân hàng như vay vốn, thẻ tín dụng.
Đối với nền kinh tế, thông qua việc khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng, giúp ngân hàng tập hợp được nguồn vốn lớn để thực hiện cấp tín dụng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia. Các lý thuyết liên quan đến hành vi tiêu dùng của khách hàng Có nhiều lý thuyết liên quan đến hành vi của người tiêu dùng. Trong đó, các lý thuyết phổ biến trong nghiên cứu liên quan đến hành vi, trong đó lựa chọn của người tiêu dùng có các lý thuyết phổ biến gồm lý thuyết hành động hợp lý và lý thuyết hành vi dự định. Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) Theo Phạm Thùy Giang (2015), đây được đánh giá là lý thuyết được sử dụng phổ biến trong những nghiên cứu liên quan đến dự báo hành vi của khách hàng dựa trên việc kiểm soát ý chí con người.
Thuyết hành động hợp lý (TRA) được xem như là một trong những lý thuyết quan trọng nghiên cứu về việc ra quyết định của người tiêu dùng. Ajzen 11 và Fishbein (1975) đã giới thiệu thuyết hành động hợp lý vào những năm cuối thâp niên 70 của thế kỷ XX. Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã cho thấy xu hướng hành vi là yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng lớn nhất về hành vi tiêu dùng thực sự của khách hàng. Đồng thời, thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng ảnh hưởng lớn đến xu hướng tiêu dùng của cá nhân (Phạm Thùy Giang, 2015).