CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN NGHỊ SVTH: Phạm Thị Kim Duyên 3 do an KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.Trần Đăng Thịnh CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về sự hài lòng trong công việc Khái niệm về sự hài lòng trong công việc có nhiều định nghĩa khác nhau từ các nhà nghiên cứu khác nhau. Trong nghiên cứu này sẽ giới thiệu một số khái niệm phổ biến : Theo Hoppock (1935) cho rằng sự hài lòng với công việc là tổng hợp sự hài lòng về tâm lý, sinh lí và các yếu tố môi trường khiến cho một người thật sự cảm thấy hài lòng về công việc của họ. Theo Smith (1983) cho rằng sự hài lòng với công việc chỉ đơn giản là cảm giác mà người lao động cảm nhận về công việc của họ.
Theo Weiss (1967) định nghĩa rằng hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Hài lòng trong công việc bắt nguồn từ tâm lý tổ chức và lý thuyết động viên. Theo Green (2000), các lý thuyết kinh điển về thỏa mãn công việc có thể phân theo ba nhóm chính. - Lý thuyết về nội dung với hai lý thuyết nền tảng là thang nhu cầu của A.Maslow (1954) và lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1966), chỉ ra rằng việc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sẽ tạo ra sự thỏa mãn công việc.
- Lý thuyết quá trình (như lý thuyết của Vroom) giải thích sự hài lòng đối với công việc là sự tác động của ba mối quan hệ (1) kỳ vọng, (2) giá trị và (3) mong muốn. - Lý thuyết hoàn cảnh lại cho rằng sự hài lòng với công việc là tác động qua lại của ba biến (1) cá nhân, (2) công việc và (3) tổ chức. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Đã có rất nhiều nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc và được thực hiện từ khá sớm, bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau cả trong và ngoài nước. Các nghiên cứu này được thực hiện ở rất nhiều ngành nghề khác nhau như giáo dục, y tế, sản xuất,.tuy nhiên lại chưa có một nghiên cứu cụ thể nào cho ngành may mặc ở khu vực TP.
Các nghiên cứu trên thế giới: Nghiên cứu của Smith, Kendall và Hulin (1969) của trường Đại học Cornell. Nghiên cứu này đã xây dựng các chỉ số mô tả công việc (JDI) để đánh giá mức độ thỏa mãn công SVTH: Phạm Thị Kim Duyên 5 do an KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.Trần Đăng Thịnh việc của một người thông quá các nhân tố là: (1) bản chất công việc, (2) tiền lương, (3) thăng tiến, (4) đồng nghiệp và (5) sự giám sát của cấp trên. Nghiên cứu của Spector(1985) trong lĩnh vực đánh giá mức độ hài lòng và thái độ có 9 yếu tố là: (1) lương, (2) cơ hội thăng tiến, (3) điều kiện làm việc, (4) sự giám sát, (5) đồng nghiệp, (6) yêu thích công việc, (7) giao tiếp thông tin, (8) phần thưởng bất ngờ, (9) phúc lợi. Nghiên cứu của Luddy(2005) trong lĩnh vực dịch vụ y tế tại Nam Phi cho thấy sự hài lòng của người lao động với công việc chịu ảnh hưởng của cả 5 yếu tố trong mô hình JDI.
Trong đó ba nhân tố “ đồng nghiệp”, “lãnh đạo” và bản chất công việc” được người lao động đánh giá tích cực, hai nhân tố “ đào tạo và thăng tiến” và tiền lương” bị đánh giá là tiêu cực. Các nghiên cứu tại Việt Nam: Tại Việt Nam nghiên cứu của Trần Kim Dung (2005) được thực hiện tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy có 7 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên đối với công việc đó là: (1) bản chất công việc, (2) đào tạo và thăng tiến, (3) tiền lương, (4) lãnh đạo, (5) đồng nghiệp, (6) phúc lợi công ty và (7) điều kiện làm việc. Nghiên cứu của Nguyễn Liên Sơn (2008) tại Long An lại cho có 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với công việc của người lao động là: (1) bản chất công việc, (2) tiền lương, (3) đồng nghiệp, (4) lãnh đạo, (5) cơ hội đào tạo và thăng tiến và (6) môi trường làm việc.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thủy (2011) khảo sát sự hài lòng của giảng viên Đại học tại TP. Hồ chí Minh cho thấy có bốn yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của giảng viên giảng dạy tại các trường Đại học (1) đồng nghiệp và phúc lợi, (2) đào tạo và thăng tiến, (3) tính chủ động và (4) môi trường làm việc. Trong đó nhân tố môi trường làm việc bị đánh giá tiêu cực. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc.
Bản chất công việc Bản chất công việc là những nội dung của công việc phù hợp với năng lực của người lao động, tạo cảm hứng cho người lao động phát huy được khả năng của mình. Bố trí công SVTH: Phạm Thị Kim Duyên 6 do an KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.Trần Đăng Thịnh việc phù hợp sẽ khai thác được tiềm năng người lao động, tăng năng suất lao động và làm cho người lao động cảm thấy thoải mái trong công việc của họ thực hiện. Nói cách khác người lao động sẽ cảm thấy hài lòng với công việc được giao nếu công việc đó là phù hợp với khả năng của họ. Điều này được kiểm chứng qua các nghiên cứu của nghiên cứu của Luddy (2005), nghiên cứu của Trần Kim Dung (2005), đều cho thấy người lao động hài lòng với bản chất công việc được giao có ảnh hưởng đến sự hài lòng của họ về công việc.
Vì vậy trong nghiên cứu này đưa ra giả thuyết nghiên cứu: Giả thuyết H1: Nhân tố bản chất công việc có tác động tích cực đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty CP May Việt Thắng. Cơ hội đào tạo và thăng tiến Cơ hội đào tạo và thăng tiến là thể hiện việc người lao động trao cơ hội đào tạo nâng cao kỹ năng phục vụ công việc và khả năng họ được đề bạt lên những vị trí cao hơn. Người lao động sẽ cảm thấy được hài lòng với những công việc cho họ cơ hội đào tạo và giúp họ thăng tiến trong công việc. Điều này đã được kiểm chứng qua các nghiên cứu Spector (1985), Jonh.Pettit và cộng sự (1997), T.Ramayah và cộng sự (2001), , Kinicki và cộng sự (2002), Luddy (2005), Trần Kim Dung (2005).
Vì vậy trong nghiên cứu này đặt ra giả thuyết: Giả thuyết H2:Nhân tố cơ hội đào tạo và thăng tiến có tác động tích cực đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty CP May Việt Thắng. Thu nhập Thu nhập là khoản thù lao người lao động thu được từ công việc của mình ở công ty. Theo lý thuyết nhu cầu của Maslow thì nhu cầu về thu nhập tương đương với các nhu cầu cơ bản về sinh lý. Nhìn chung thì cùng một mức độ công việc người lao động sẽ cảm thấy hài lòng hơn khi thu nhập của họ cao hơn, ngoài ra các yếu tố về công bằng trong thu nhập cũng được người lao động đánh giá cao.
Điều này đã được kiểm chứng qua các nghiên cứu của Arthur G.Bedeian và cộng sự (1992), Jonh.Pettit và cộng sự (1997), T.Ramayah và cộng sự (2001), , Kinicki và cộng sự (2002), Luddy (2005), Trần Kim Dung (2005), Nguyễn Liên Sơn (2008), Phạm Văn Mách (2012). Vì vậy trong nghiên cứu này đặt ra giả thuyết: SVTH: Phạm Thị Kim Duyên 7 do an KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.Trần Đăng Thịnh Giả thuyết H3: Nhân tố thu nhập có tác động tích cực đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty CP May Việt Thắng. Lãnh đạo Lãnh đạo là cấp trên, là người quản lý của nhân viên, lãnh đạo đem đến cho nhân viên sự thỏa mãn thông qua việc giao tiếp, thể hiện sự quan tâm, đối xử công bằng và ghi nhận các đóng góp của nhân viên. Nói cách khác nhân tố lãnh đạo có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của nhân viên trong công việc.
Điều này đã được kiểm chứng qua các nghiên cứu của Spector (1985), Jonh.Pettit và cộng sự (1997), T. Ramayah và cộng sự (2001), Luddy (2005), Trần Kim Dung (2005), Nguyễn Liên Sơn (2008), Nguyễn Thị Thu thủy (2011)…Vì vậy trong nghiên cứu này đặt ra giả thuyết: Giả thuyết H4: Nhân tố lãnh đạo có tác động tích cực đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty CP May Việt Thắng. Đồng nghiệp Đồng nghiệp là những người làm cùng một vị trí với nhau, có nội dung công việc thực hiện tương tự nhau. Mối quan hệ giữa các đồng nghiệp và mối quan hệ cạnh tranh và hỗ trợ.
Người lao động sẽ cảm thấy thỏa mãn với công việc nếu công việc của họ được hỗ trợ tốt từ đồng nghiệp, đồng nghiệp thân thiện và giúp đỡ nhau trong công việc cũng như có sự cạnh tranh công bằng về phần thưởng và đề bạt trong tổ chức. Hay nói cách khác người lao động sẽ cảm thấy hài lòng với công việc hơn khi họ có mối quan hệ tốt với đồng nghiệp. Điều này đã được kiểm chứng qua các nghiên cứu của T.Ramayah và cộng sự (2001), Luddy (2005), Trần Kim Dung (2005), Nguyễn Liên Sơn (2008), Nguyễn Thị Thu Thủy (2011)…Vì vậy trong nghiên cứu này đưa ra giả thuyết nghiên cứu: Giả thuyết H5: Nhân tố đồng nghiệp có tác động tích cực đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty CP May Việt Thắng. Điều kiện làm việc Điều kiện làm việc là các yêu cầu về vật chất và tinh thần khi thực hiện một công việc.
Về yêu cầu vật chất , tình trạng nơi làm việc của người lao động nó bao gồm những yếu tố như: sự an toàn của nơi làm việc, trang thiết bị phục vụ cho công việc…Về yêu cầu tinh thần thì gồm những yếu tố như đãi ngộ, chế độ bảo hiểm, nghỉ lễ…Người lao động SVTH: Phạm Thị Kim Duyên 8 do an KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.Trần Đăng Thịnh được cung cấp một điều kiện làm việc tốt sẽ đánh giá tốt về công việc của mình, ngược lại họ sẽ cảm thấy bất mãn với điều kiện làm việc mà họ phải chấp nhận. Điều này được kiểm chứng trong các nghiên cứu của cứu Spector (1985), Trần Kim Dung (2005), Nguyễn Liên Sơn (2008), Phạm Văn Mách (2012)…Vì vậy trong nghiên cứu này đặt ra giả thuyết: Giả thuyết H6: Nhân tố điều kiện làm việc có tác động tích cực đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại công ty CP May Việt Thắng.