chương 1 tác giả đã trình bày các vấn đề mang tính tổng quát của đề tài như tính cấp thiết của đề tài; mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của đề tài. Để bắt đầu vào nghiên cứu, tác giả sẽ đi sâu vào việc trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu ở chương tiếp theo. Luan van 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về đại dịch COVID-19 COVID-19 là tên gọi tắt của cụm từ “coronavirus disease 2019”, một loại bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona là virus SARS-CoV-2 gây ra (World Health Organization, 2020a).
Dịch COVID-19 bùng phát lần đầu tiên tại Vũ Hán, Trung Quốc vào cuối năm 2019 và sau đó lan nhanh ra toàn cầu. Trước tình hình số ca nhiễm bên ngoài Trung Quốc đại lục tăng gấp 13 lần trong hai tuần, đến ngày 11/03/2020, tổ chức y tế thế giới (WHO) chính thức ghi nhận dịch COVID-19 là đại dịch (World Health Organization, 2020b). Tính đến thời điểm ngày 20/10/2021, số ca nhiễm toàn cầu đã vượt ngưỡng 240 triệu ca, với số ca tử vong gần 5 triệu người, tại hơn 221 quốc gia và vùng lãnh thổ (Worldometers, 2021). Không nằm ngoài tình hình căng thẳng của đại dịch viêm phổi cấp tính COVID-19, Việt Nam cũng ghi nhận ca nhiễm đầu tiên vào ngày 20/01/2020 (Duong và cộng sự, 2021) và trong vòng 21 tháng (tính đến ngày 20/10/2021), đại dịch đã lan chóng lan rộng ra 37 trên tổng 63 tỉnh thành với bốn lần bùng phát dịch, trong đó thành phố Hồ Chí Minh với hơn 9 triệu dân là nơi ghi nhận số ca nhiễm và tử vong nhiều nhất trong cả nước với hơn 870.000 ca nhiễm và gần 22.000 ca tử vong (Cổng thông tin của Bộ Y Tế về đại dịch COVID-19, 2021).
Để ngăn chặn sự lây lan nhanh chóng của virus corona, tùy theo tình hình dịch của từng vùng, lãnh thổ mà chính phủ các quốc gia trên thế giới ngay lập tức ban hành nhiều biện pháp ứng phó nhằm bảo vệ sức khỏe người dân và nhóm cộng đồng toàn cầu với nhiều mức độ khác nhau, phổ biến nhất là ban hành tình trạng phong tỏa, cách ly xã hội, đóng cửa các dịch vụ không thiết yếu, các cơ quan y tế vận động người dân thường xuyên rửa bay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn; đeo khẩu trang khi ra ngoài; giữ khoảng cách an toàn khi tiếp xúc; không tập trung đông người (Harper, 2020). Bộ Y Tế Việt Nam cũng liên tục khuyến cáo người dân thực hiện 5K (khẩu trang, khử khuẩn, khoảng cách, không tụ tập, khai báo y tế) để phòng, chống dịch bệnh (Cổng thông tin của Bộ Y Tế về đại dịch COVID-19, 2020). Tại Việt Nam, đợt dịch lần thứ 4 bùng phát tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 27/04/2021 với sự xuất hiện của biến chủng Delta với tốc độ lây lan hơn 60% Luan van 8 (Plan và cộng sự, 2021) đã gây hoang mang trong người dân, Chính Phủ Việt Nam ban hành các chỉ thị 15, 16, 16+. Dịch Covid-19 ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế Việt Nam, đặc biệt đợt dịch kéo dài từ tháng 7 đến nay 31/09/2021, các tỉnh Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long và Hà Nội phải thực hiện giãn cách xã hội theo chỉ thị 16 trong thời gian dài đã ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả tăng trưởng kinh tế (GDP) cả nước, theo đó, GDP quý III/2021, giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, mặc dù GDP Quý III/2021 giảm sâu nhưng tính chung 9 tháng, tăng trường GDP vẫn đạt 1,42% so với cùng kỳ năm trước (Tổng cục thống kê, 2021) Trước tình hình kinh tế suy giảm, và trước các nhận định từ Tổ chức y tế thế giới (WHO), các nhà khoa học và các quốc gia về tình hình COVID-19 chưa thể kiểm soát an toàn trước năm 2023, có thể xuất hiện thêm các biến chủng virus mới nguy hiểm hơn sẽ làm cho dịch diễn biến phức tạp khó lường, vì vậy đã có nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã thay đổi chiến lược ứng phó dịch bệnh từ cố gắng dập tắt dứt điểm sang sống chung an toàn với dịch bệnh (Chính Phủ, 2021).
Ngoài các biện pháp áp dụng theo cấp độ dịch đối với các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, chính phủ quy định các cá nhân vẫn tiếp tục tuân thủ 5K, ứng dụng công nghệ thông tin để khai báo y tế và đăng ký tiêm chủng, tuân thủ các điều kiện cách lý tiêm chủng, xét nghiệm nếu có nhu cầu đi lại và tuân thủ các nguyên tắc của cơ quan y tế khi điều trị tại nhà đối với người nhiễm COVID-19. Theo WHO, bước sang giai đoạn bình thường mới này, COVID-19 vẫn còn nguy cơ đối với tất cả mọi người cho đến khi có vaccine và phương pháp điều trị hiệu quả (WHO, 2021; Plan và cộng sự, 2021), và luôn kêu gọi mọi người vẫn luôn rửa sạch tay bằng xà phòng và nước hoặc bằng dung dịch cồn sát khuẩn, đeo khẩu trang, được xem là những phương pháp phòng tránh hiệu quả sự lây nhiễm virus corona. Khái niệm về sản phẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân 2. Khái niệm về sản phẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân Chăm sóc vệ sinh cá nhân là nhu cầu cơ bản cần thiết của con người, nhằm giữ gìn vệ sinh cho cơ thể của bản thân bằng việc tắm rửa, rửa tay, đánh răng,…với mục đích bảo vệ sức khỏe cho bản thân, tránh sự lây nhiễm, đem lại sự thoải mái dễ chịu Luan van 9 (WHO, 2020).
Sản phẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân ra đời từ nhu cầu vệ sinh đó của con người và thường được sản xuất tại các nhà máy sản xuất hóa mỹ phẩm. Hiện nay hầu như chưa có định nghĩa cụ thể về sản phẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân, vì vậy trong giới hạn của bài nghiên cứu này, tác giả sẽ căn cứ vào các định nghĩa khác tương đương để xây dựng khái niệm. Sản phẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân là một trong các sản phẩm thuộc về hóa mỹ phẩm, vì vậy tác giả sẽ căn cứ vào định nghĩa của mỹ phẩm (cosmetics). Theo định nghĩa của Bộ Y Tế Việt Nam trong thông tư 06/2021//TT-BYT, mỹ phẩm là các sản phẩm được sử dụng để tiếp xúc với các bộ phận bên ngoài cơ thể (da, tóc, móng, môi và cơ quan sinh dục), răng, niêm mạc miệng nhằm mục đích làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, và điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thể hoặc giữ cơ thể trong điều kiện tốt.
Theo Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ - Food and Drug Administration (FDA), mỹ phẩm là sản phẩm (bao gồm cả xà phòng) được sử dụng trên cơ thể con người nhằm mục đích làm sạch, làm đẹp, thay đổi diện mạo của người sử dụng, giúp làm tăng độ thu hút ngoại hình. Còn quy định của Nghị viện và hội đồng Châu Âu, quy định EC số 1223/2009 về các sản phẩm mỹ phẩm: “Mỹ phẩm là bất kỳ chất hoặc hỗn hợp nào được sử dụng để tiếp xúc với các bộ phận bên ngoài của cơ thể con người (biểu bì, hệ thống tóc, móng tay, môi và bộ phận sinh dục ngoài các cơ quan) hoặc với răng và màng nhầy của khoang miệng được dành riêng hoặc chủ yếu để làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, bảo vệ, giữ chúng trong tình trạng tốt hoặc điều chỉnh mùi cơ thể”. Nhu vậy, mặc dù mỹ phẩm được định nghĩa với nhiều các diễn đạt khác nhau nhưng đều chung một ý nghĩa, đó là những chất vừa dùng để làm đẹp, vừa dùng để giữ vệ sinh cá nhân (làm sạch), vì vậy ngành mỹ phẩm (cosmetic) còn được gọi là ngành làm đẹp và chăm sóc cá nhân (beauty and personal care). Từ định nghĩa mỹ phẩm và chăm sóc vệ sinh cá nhân như trên, tác giả đúc kết khái niệm của sản phẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân như sau: “Sản phẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân là các sản phẩm được dùng trên cơ thể người nhằm mục đích làm sạch, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe và tránh các bệnh truyền nhiễm”.
Luan van 10 Tham khảo theo cách phân loại của FDA (U. FDA, 2020) và tùy bộ phận làm sạch trên cơ thể, sản phẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân (viết tắt: CSVSCN) có thể bao gồm nhưng không giới hạn các sản phẩm sau: dầu gội đầu, sữa tắm, sữa rửa mặt, xà phòng rửa tay, nước/gel rửa tay, dung dịch vệ sinh phụ nữ, nước súc miệng, kem đánh răng,. Ngoài cách phân loại theo sản phẩm nói trên, sản phẩm mỹ phẩm nói chung, sản phẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân nói riêng còn được phân loại theo các cách sau: - Theo giới tính: sản phẩm dành cho nam hoặc nữ hoặc phi giới tính - Theo kênh phân phối: kênh dược, kênh bệnh viện, kênh siêu thị hoặc kênh thương mại điện tử. Đặc điểm của sản phẩm chăm sóc vệ sinh cá nhân Theo như định nghĩa được đề cập ở trên, tác dụng chính của các sản phẩm CSVSCN là làm sạch bụi bẩn, dầu, lớp trang điểm, các chất ô nhiễm từ môi trường, vi khuẩn và các chất bẩn khác trên cơ thể (Baki và Alexander, 2015).
Nguyên lý chủ yếu của quá trình làm sạch này là dựa vào quá trình nhũ hóa của các chất hoạt động bề mặt vốn là thành phần chính có trong các sản phẩm CSVSCN, nhằm làm biến đổi các chất bẩn vốn không tan trong nước này trở thành các hạt micelles nhỏ, dễ hòa tan trong nước và sau đó nước sẽ cuốn trôi các hạt micelles này cùng với các chất bẩn, để lại cảm giác sạch sẽ và thoáng mát cho bề mặt cơ thể. Ngoài tác dụng làm sạch các chất liệu rắn trên cơ thể, các sản phẩm CSVSCN nói chung đều có khả năng loại trừ được các loại vi sinh vật, vi khuẩn và virus bám trên cơ thể (Jabr, 2020). Đó là lý do kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát, các cơ quan chuyên môn về y tế quốc tế như Tổ chức y tế thế giới (WHO), trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã lập tức đưa ra các khuyến nghị là mọi người nên giữ vệ sinh sạch sẽ, nhất là nên rửa tay với xà phòng và nước trong khoảng ít nhất 20 giây để ngăn ngừa bị nhiễm virus SARS-CoV-2, đây được xem là giải pháp tiết kiệm, hiệu quả nhanh chóng và dễ dàng tiếp cận với đại bộ phận người dân (Chaudhary và cộng sự, 2020). Theo các nhà nghiên cứu, cơ chế hoạt động của xà phòng trong việc bất hoạt virus SARS-CoV-2 có thể được giải thích như sau.