Chương 1 đã giới thiệu tổng quan cho người đọc thấy rõ được mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu được thực hiện trong đề tài. Đây là chương quan trọng giúp tác giả cũng như người đọc định hướng được nội dung các chương tiếp theo để việc nghiên cứu được thực hiện logic và khoa học. 7 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm liên quan - Khái niệm về huy động vốn: Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009), vốn huy động là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu (bao gồm của pháp nhân và thể nhân) mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng. Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một NHTM nào, tính chất quan trọng của vốn huy động được thể hiện ở chỗ nó không những chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng mà vì nó là tiền nhàn rỗi của xã hội được huy động và tập trung để sử dụng có hiệu quả cho các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội.
- Khái niệm khách hàng là gì? Khách hàng (customer) hiểu một cách đơn giản là cá nhân hay tổ chức mà các doanh nghiệp đang marketing hướng tới. Họ là người ra quyết định mua hàng hóa hoặc dịch vụ của công ty, doanh nghiệp. Theo đó, khách hàng là người hưởng những đặc tính chất lượng của sản phẩm – dịch vụ. Khách hàng có vai trò vô cùng quan trọng, họ có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của một doanh nghiệp và họ cũng chính là nền tảng để doanh nghiệp có thể tiếp tục tồn tại trên thị trường.
- Khái niệm về khách hàng cá nhân: Khách hàng cá nhân là đối tượng khách hàng được ngân hàng quan tâm nhiều nhất trong việc huy động nguồn tiền nhàn rỗi để thực hiện hoạt động kinh doanh của nhân hàng. Khách hàng cá nhân gửi tiền: Người gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tại NHTM. Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi, của đồng chủ sở hữu tiền gửi. Ngoài ra, khách hàng gửi tiền còn phải đáp ứng một số điều kiện để thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi như sau: Cá nhân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo qui định của luật pháp, cá 8 nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo qui định của pháp luật Việt Nam được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm.
Cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam chưa đủ tuổi thành niên nhưng có tài sản riêng đủ để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo qui định của pháp luật thì được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo qui định của pháp luật thì chỉ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm thông qua người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật - Khái niệm về khách hàng doanh nghiệp: Khách hàng doanh nghiệp là những cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước hay các đơn vị có nhu cầu sử dụng dịch vụ, sản phẩm mà doanh nghiệp đó cung cấp. Trong nền kinh tế thị trường, một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp chính là khách hàng.2 Tổng quan về vốn huy động của ngân hàng thương mại 2.1 Đặc điểm về huy động vốn của ngân hàng thương mại Nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại có những đặc điểm cơ bản như sau: - Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM. - Về mặt lý thuyết, vốn huy động là một nguồn vốn không ổn định, khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc - chính vì đặc điểm này mà các NHTM cần phải duy trì một khoản “dự trữ thanh khoản” để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.
- Vốn huy động có chi phí sử dụng vốn tương đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. - Vốn huy động là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. 9 - Vốn huy động chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các NHTM không được sử dụng nguồn vốn này để đầu tư.2 Các sản phẩm tiền gửi của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Trong đó, huy động vốn là hoạt động tạo vốn cho việc kinh doanh của các NHTM và theo Luật các tổ chức tín dụng (2010), các NHTM được huy động vốn với các hình thức: Huy động vốn tiền gửi, Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá và Huy động vốn từ các tổ chức tín dụng khác và từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
- Huy động vốn tiền gửi: Theo Nguyễn Minh Kiều (2006), huy động vốn tiền gửi là hình thức huy động truyền thống và mang tính đặc thù riêng của ngân hàng thương mại. Do nhu cầu và động thái gửi tiền của khách hàng rất đa dạng và khác nhau nên để thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền, ngân hàng thương mại phải thiết kế và phát triển thành nhiều loại sản phẩm tiền gửi khác nhau như sau: + Tiền gửi thanh toán: Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán. Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thanh toán qua ngân hàng. Tài khoản tiền gửi này là loại tài khoản không kỳ hạn, khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho ngân hàng, nên ngân hàng rất khó kế hoạch hóa việc sử dụng loại tiền gửi này.
Chính vì vậy, loại tiền gửi này thường ngân hàng trả lãi suất thấp cho khách hàng. Do không được hưởng lãi cao nên thường khách hàng thường duy trì số dư tài khoản tiền gửi thanh toán không nhiều, chỉ vừa đáp ứng nhu cầu chi trả hàng ngày của họ. Mặc dù số dư tài khoản tiền gửi của từng khách hàng thường không lớn, nhưng do là trung tâm tập trung tiền tệ và cung cấp dịch vụ thanh toán, nên NHTM có số 10 lượng khách hàng rất đông khiến cho tổng số vốn huy động qua tiền gửi thanh toán của tất cả khách hàng trở nên lớn đáng kể. Toàn bộ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán giúp hình thành nên nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng.
Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này vào mục đích cấp tín dụng ngắn hạn hoặc cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác. + Tiền gửi tiết kiệm: Bao gồm, Tiết kiệm không kỳ hạn, Tiết kiệm định kỳ và các loại tiết kiệm khác. Tiết kiệm không kỳ hạn: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được thiết kế dành cho đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai. Đối với khách hàng khi chọn lựa hình thức tiền gửi này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu sinh lời.
Đối với ngân hàng, vì loại tiền gửi này khách hàng muốn rút bất cứ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Do vậy, ngân hàng thường trả lãi rất thấp cho loại tiền gửi này. Tiết kiệm định kỳ: Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm định kỳ được thiết kế dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý.
Đa số khách hàng thích lựa chọn hình thức tiền gửi này là lợi tức có được theo định kỳ. Do vậy, lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút được đối tượng khách hàng này. Dĩ nhiên, lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm định kỳ cao hơn lãi suất trả cho loại tiền gửi không kỳ hạn. Ngoài ra, mức lãi suất còn thay đổi tùy theo loại kỳ hạn gửi (không kỳ hạn, 1,2, 3, 6, 9 hay 12 tháng…), tùy theo loại đồng tiền gửi tiết kiệm (VND, USD, EUR,…) và tùy theo uy tín và rủi ro của ngân hàng nhận tiền gửi.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể phân chia thành nhiều loại. Căn cứ vào thời hạn có thể chia thành tiền gửi kỳ hạn 1 tháng,2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng và trên 12 tháng. Căn cứ vào 11 phương thức trả lãi có thể chia thành: Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ; Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ và Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi theo định kỳ (tháng hoặc quý). Việc phân chia tiền gửi kỳ hạn thành nhiều loại khác nhau làm cho sản phẩm tiền gửi của ngân hàng trở nên đa dạng và phong phú có thể đáp ứng được nhu cầu gửi tiền đa dạng của khách hàng.
Các loại tiết kiệm khác: Ngoài hai loại tiết kiệm chính là tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm định kỳ hầu hết các NHTM đều có thiết kế những loại tiền gửi tiết kiệm khác như tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm có thưởng, tiết kiệm an khang với nét đặc trưng riêng nhằm làm cho sản phẩm của mình luôn được đổi mới theo nhu cầu khách hàng và tạo ra rào cản dị biệt để chống lại sự bắt chước của các đối thủ cạnh tranh. - Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá Theo Nguyễn Minh Kiều (2006), ngoài việc huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản tiết kiệm, các tổ chức tín dụng nói chung và NHTM nói riêng còn có thể huy động bằng cách phát hành giấy tờ có giá.