CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 1. Tổng quan về thị trường chứng khoán 1. Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu tích lũy trong xã hội không ngừng tăng lên và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn. Trong xã hội xuất hiện những người cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư, đồng thời lại có một số người có vốn nhàn rỗi tạm thời muốn cho vay để lấy lãi.
Ban đầu, những người này thường tìm gặp nhau một cách trực tiếp để trao đổi mua bán, nhưng khi cung và cầu vốn không ngừng tăng lên thì hình thức vay và cho vay trực tiếp không đáp ứng được toàn bộ nhu cầu giữa các bên liên quan, do đó thị trường tài chính ra đời. Có thể nói, chức năng cơ bản của thị trường tài chính là chuyển tiền từ những người có tiền sang những người cần tiền. Những người cần tiền hay có tiền có thể là chính phủ, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước. Sự dịch chuyển tiền được thực hiện thông qua hai con đường: tài trợ trực tiếp và tài trợ gián tiếp.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của thị trường tài chính, thị trường tiền tệ được hình thành trước do ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân cư chưa cao và ban đầu nhu cầu chủ yếu về vốn là ngắn hạn. Sau đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu vốn dài hạn cho đầu tư phát triển thị trường ngày càng cao và thị trường vốn đã ra đời để đáp ứng những nhu cầu này. Để huy động vốn dài hạn, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, chính phủ và một số công ty còn thực hiện huy động vốn thông qua phát hành các chứng khoán. Khi một bộ phận các chứng khoán có giá nhất định được phát hành thì tất yếu nảy sinh nhu cầu về mua bán, trao đổi các chứng khoán đó.
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại. Người ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế qua diễn biến trên thị trường chứng khoán. Đến nay, hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển đều đã có thị trường chứng khoán. Khái niệm và bản chất của thị trường chứng khoán Hiện nay, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán: Quan điểm thứ nhất cho rằng thị trường chứng khoán và thị trường vốn là một, đều là thị trường tư bản, cung cấp vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên việc đồng nhất hai thị trường này đã bỏ qua tính thanh khoản của các công cụ huy động vốn (cổ phiếu, trái phiếu, vay, thuê mua,. Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng: “Thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một”. Như vậy, theo quan điểm này, thị trường chứng khoán và thị trường vốn là khác nhau, trong đó thị trường chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn như Trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty. Quan điểm thứ ba lại cho rằng: “Thị trường chứng khoán là thị trường cổ phiếu”, hay là nơi mua bán các cổ phần được các công ty phát hành ra để huy động vốn.
Quan điểm này xuất phát từ việc xem xét mức độ tác động của thị trường tới nền kinh tế khi có biến động thì cổ phiếu ảnh hưởng mạnh hơn. Các quan điểm trên đều được khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và trong từng điều kiện lịch sử nhất định. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán được hiểu đơn giản là nơi trao đổi, mua bản các chứng khoán hay các giấy tờ có giá. Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy tắc ấn định trước - Theo Nguyễn Thị Minh Huệ (biên soạn, 2019).
Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành 4 nhóm sau: chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, các tổ chức cung ứng dịch vụ và cơ quan quản lý giám sát thị trường. Chủ thể phát hành Chủ thể phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hóa của thị trường chứng khoán. Đây là những người cần tiền và huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán và bán cho những nhà đầu tư hoặc những người kinh doanh chứng 14 khoán. Các chủ thể phát hành bao gồm: chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, quỹ đầu tư.
Chính phủ và chính quyền địa phương: là chủ thể phát hành các chứng khoán: Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu công trình, tín phiếu kho bạc. Nhà nước tham gia thị trường chứng khoán chủ yếu với tư cách là người vay nợ. Doanh nghiệp: là chủ thể phát hành cổ phiếu hoặc/và trái phiếu công ty. Tùy theo quy định của Luật Chứng khoán của mỗi nước mà các công ty được quy định hình thức và tiêu chuẩn phát hành khác nhau.
Quỹ đầu tư: Quỹ đầu tư là một tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác. Các quỹ đầu tư thường phát hành cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ đầu tư mà không được phép phát hành trái phiếu hay sử dụng các nguồn vốn khác để đầu tư. Quý đầu tư được phân thành nhiều loại khác nhau như: Quỹ đầu tư dạng công ty, Quỹ đầu tư dạng hợp đồng. Khi phát hành chứng khoán, quỹ đầu tư được phép quảng cáo để thu hút vốn, trong đó nói rõ mục đích đầu tư của quỹ mà không được phép cam kết về lợi nhuận thu được.
Nhà đầu tư Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán bằng cách mua bán chứng khoán nhằm hưởng lợi nhuận. Khi đầu tư, nhà đầu tư phải xem xét kỹ các nhân tố như khả năng lợi nhuận, tính ổn định và khả năng thị trường để đưa ra các phương thức đầu tư khác nhau. Nhà đầu tư có thể được chia thành hai loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức. Các nhà đầu tư cá nhân: Là các cá nhân và hộ gia đình, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Các nhà đầu tư có tổ chức: Là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp chính trên thị trường chứng khoán là các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm. Cơ quan quản lý thị trường Đây là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động của thị trường chứng khoán. Cơ quan quản lý và giám sát thị trường chứng khoán được hình thành dưới nhiều mô hình tổ chức hoạt động khác nhau: do các tổ chức tự quản thành lập, trực thuộc Chính phủ hoặc có sự kết hợp quản lý giữa các tổ chức tự quản và Nhà nước.
Nhưng nhìn chung, thị trường chứng khoán chịu sự quản lý và giám sát của hai nhóm chính: Cơ quan quản lý Nhà nước về thị trường chứng khoán và Các tổ chức tự quản. Vai trò của thị trường chứng khoán Việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia. Thị trường chứng khoán là một trong những đặc trưng của nền kinh tế hiện đại. Chính vì vậy, việc nhận thức đầy đủ vai trò của thị trường chứng khoán có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá và xây dựng chính sách quản lý thị trường một cách hữu hiệu.
Vai trò của thị trường chứng khoán được thể hiện qua các giác độ sau: Thứ nhất, thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế. Thị trường chứng khoán cho phép các doanh nghiệp hay chính phủ có thể huy động vốn đáp ứng các nhu cầu đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng sản lượng thông qua việc phát hành các chứng khoán. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán có thể đẩy nhanh sự phát triển kinh tế bằng việc cung cấp các công cụ chuyển nguồn tiết kiệm thành đầu tư và cho phép việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm này một cách có hiệu quả. Các công cụ của thị trường chứng khoán có tính lỏng rất cao, trên cơ sở đó có thể tạo điều kiện cho việc tích tụ, tập trung và phân phối vốn trung hạn và dài hạn trong nền kinh tế.
Đồng thời, thị trường chứng khoán cũng là kênh huy động vốn đầu tư nước ngoài. Thông qua thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư nước ngoài có thể nhận định tình hình sản xuất kinh doanh của các ngành, các tổ chức kinh tế trong nước. Ngoài ra, việc mở cửa thị trường chứng khoán làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Điều này cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn, tăng cường đầu tư từ nguồn tiết kiệm bên ngoài, 16 đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước.
Thứ hai, thị trường chứng khoán thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và hiệu quả hơn. Các quy định trên thị trường buộc các doanh nghiệp khi tham gia thị trường phải công bố thông tin, công khai các báo cáo tài chính,. Nhờ đó, các nhà đầu tư có thể phân tích và cánh giá các chứng khoán. Nói cách khác, giá của chứng khoán phản ánh các thông tin về giá trị kinh tế cơ bản của một doanh nghiệp, hay khả năng về lợi nhuận tiềm tàng của doanh nghiệp trong tương lai.
Những doanh nghiệp có hiệu quả bền vững mới có thể nhận được vốn với chi phí rẻ trên thị trường. Chính những điều này buộc các doanh nghiệp phải tính toán kỹ lưỡng trong việc huy động và sử dụng vốn, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.