Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ 7 NHU CẦU VĂN HOÁ TINH THẦN 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài về nhu cầu và nhu cầu văn hoá tinh thần Xung quanh vấn đề nhu cầu và NCVHTT đã có nhiều nhà tâm lý học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Có thể đề cập tới một số quan niệm cơ bản sau đây: * Các nghiên cứu về nhu cầu và NCVHTT trong tâm lý học ngoài Mác xít J.
Watson là nhà tâm lý học người Mỹ, người khởi xướng ra tâm lý học hành vi cổ điển không quan tâm đến việc mô tả, giảng giải trạng thái tâm lý - ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người. Theo Ông, hành vi được xem là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường, nghĩa là, khi có một kích thích nào đó tác động vào cơ thể, thì cơ thể sẽ tạo ra một phản ứng đáp lại. Vì vậy, mọi hành vi do cơ thể tạo ra đều do kích thích tác động từ bên ngoài vào và có thể biểu đạt theo công thức: S R ( S là kích thích – R là phản ứng) [14]. Như vậy, chủ nghĩa hành vi đã không xét đến yếu tố tâm lý ẩn dấu đằng sau thúc đẩy những hoạt động của con người, không xét đến tính tích cực, tính chủ thể của từng con người sống thực, tức là họ bỏ qua yếu tố nhu cầu của từng con người cụ thể, đánh đồng cơ chế hoạt động của con người với cơ chế hoạt động của máy móc.
Cùng nằm trong số các nhà hành vi học có tác giả William McDougall (1871 - 1938), Ông cho rằng: trong các loại hành vi của con người, có một loại hành vi gọi là hành vi hữu đích. Loại hành vi này không cần phải được khởi động bởi một kích thích đã biết trước, mà nó được xuất phát từ nhu cầu bản năng trong cơ thể, nó có thể được thay đổi khi gặp trở ngại để đạt được mục tiêu của con người. Quan điểm này của William McDougall có sự tương đồng với quan điểm của phân tâm học. Với cách 8 lập luận như vậy, các tác giả của chủ nghĩa hành vi đã không lý giải được rất nhiều trường hợp xảy ra trong thực tiễn cuộc sống và các hoạt động của con người trong xã hội.
Chẳng hạn, cùng một kích thích như nhau nhưng phản ứng thu được ở mỗi người lại khác nhau hoặc cùng một kích thích nhưng ở các hoàn cảnh khác nhau cũng cho các phản ứng khác nhau. Để sửa chữa những sai lầm của J.Tolman (1886 - 1959) là người khởi xướng chủ nghĩa hành vi mới đã nghiên cứu vấn đề mà chủ nghĩa hành vi cổ điển bỏ qua. Tức là, nghiên cứu xem có cái gì xảy ra giữa S và R. Ông lý giải rằng ở khoảng giữa S R có các yếu tố trung gian, các yếu tố này can thiệp vào quá trình tạo ra phản ứng ( R ).Tolman đã đưa ra quan niệm: Ở con người và động vật đều có nhiều loại ham thích cần được thoả mãn.
Loại ham thích thứ nhất thúc đẩy những hành vi nhằm thoả mãn những nhu cầu bản năng sinh vật của con người (ăn, ngủ, bảo vệ…); còn loại ham thích thứ hai là những kích thích sinh ra từ hoàn cảnh xã hội (như tính tò mò, tính bắt trước, lòng tự trọng…). Năm 1951, Ông sửa đổi lại hệ thống các nhu cầu và phân chia chúng thành ba loại: Loại thứ nhất là nhu cầu muốn thoả mãn sự đói khát, nhu cầu tình dục, nhu cầu được bảo vệ, nhu cầu tránh sự đau đớn… Loại nhu cầu thứ hai có quan hệ với xã hội, bao gồm tính bầy đàn (ở động vật) hay tính cộng đồng (ở người), nhu cầu về sự phụ thuộc, tính thống trị, tính phục tùng… Loại thứ ba là những nhu cầu riêng chẳng hạn nhu cầu cho và nhận của mỗi cá nhân. Như vậy, chủ nghĩa hành vi cũ không đề cập đến nhu cầu của con người, chủ nghĩa hành vi mới tuy đã đi sâu nghiên cứu và phân chia nhu cầu của con người thành nhiều loại khác nhau, trong đó có những dạng của NCVHTT. Nhưng tất cả các nhà hành vi đều thiên về quan điểm sinh vật luận, 9 đề cao các nhu cầu sinh vật bản năng, coi nhẹ vai trò của yếu tố xã hội đến sự phát triển tâm lý con người và coi nhẹ nhu cầu xã hội, NCVHTT của con người.
Khác với tâm lý học hành vi, phân tâm học mà đại biểu là S. Freud (1856 – 1939) trong khi nghiên cứu về bản năng của con người đã đề cập đến nhu cầu cơ thể. Freud, nhu cầu tự nhiên mà bản năng tình dục là động lực chủ đạo thúc đẩy con người hoạt động trong mọi lĩnh vực. Khi con người được thoả mãn các nhu cầu này thì họ sẽ thăng hoa, sáng tạo và hoạt động đạt hiệu quả cao.
Mọi nhu cầu xã hội khác chẳng qua chỉ là sự biến thể của nhu cầu tự nhiên, chúng vẫn có nguồn gốc từ nhu cầu tự nhiên, là bản năng tính dục. Theo thuyết này, mọi nhu cầu của con người nhất là nhu cầu tính dục đều cần phải được thoả mãn bằng cách này hay cách khác, chí ít là trong giấc mơ. Chỉ có như vậy con người mới lấy lại được sự cân bằng cần thiết cho sự tồn tại của mình. Nếu nhu cầu tính dục không được thoả mãn, sẽ là nguyên nhân gây ra các chứng bệnh tâm thần ở con người, cần phải điều trị theo các phương pháp của phân tâm học.Freud đã tuyệt đối hoá nhu cầu tự nhiên mà xem nhẹ NCVHTT của con người.
Kế thừa tư tưởng của các nhà tâm lý học đi trước, những năm đầu thế kỷ XX, K. Lewin (1890 - 1947) một đại biểu của tâm lý học cấu trúc đã quan tâm đến khái niệm “nhu cầu”. Ông cho rằng, từ hoạt động tâm lý thực tế, con người không chỉ có nhu cầu giản đơn của cơ thể, mà còn có các nhu cầu xã hội, NCVHTT nữa. Lewin thì kể cả những ý đồ hay còn gọi là dự định cũng là một dạng của nhu cầu… Những ý đồ xuất hiện gây ra trạng thái căng thẳng, trạng thái này thúc đẩy con người hoạt động nhằm thực hiện những ý đồ và làm dịu đi sự căng thẳng.
Lewin còn khẳng định, trạng thái căng thẳng có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động tâm lý và nó là nhân tố dẫn đến sự thay đổi tính tích cực hoạt động của con người.Lewin chủ yếu đề cập đến nguyên nhân hình thành 10 nhu cầu và mối quan hệ giữa nhu cầu với tính tích cực hoạt động của con người. Ông cho rằng: con người có NCVHTT, nhưng Ông không làm rõ khái niệm và vai trò của NCVHTT đối với cuộc sống con người. Maslow (1908 - 1970) nhà tâm lý học người Mỹ, đã nghiên cứu các quan niệm về nhu cầu của các nhà tâm lý học trước đó để đưa ra học thuyết nhu cầu. Tác giả cho rằng: nhu cầu của con người có sự phát triển từ thấp đến cao theo một chuỗi liên tiếp như một chiếc thang gồm 5 tầng bậc khác nhau.
Tầng 1: Nhu cầu sinh lý bản năng. Là loại nhu cầu nguyên thuỷ, lâu dài nhất, cơ bản nhất, sơ cấp nhất và cũng rộng rãi nhất của con người, như: ăn, mặc, ở, đi lại…nhu cầu này nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân. Đây là nhu cầu bắt buộc không thể thiếu, khi nhu cầu này chưa thoả mãn thì nó chưa tạo thành động lực thúc đẩy con người hoạt động và chưa đòi hỏi những nhu cầu khác. Tầng 2: Nhu cầu về an ninh, an toàn.
Là mong muốn của con người được sống và làm việc trong môi trường không có sự nguy hiểm về tính mạng và tài sản, có lợi cho sự phát triển lành mạnh của họ. Khi nhu cầu này được thoả mãn con người sẽ yên tâm hoạt động. Tầng 3: Nhu cầu xã hội. Mỗi người dù sống trong môi trường, hoàn cảnh xã hội nào họ cũng là một thành viên của một giai cấp, một dân tộc hay một cộng đồng xã hội nhất định.
Do đó, họ luôn xuất hiện nhu cầu được giao tiếp với những người xung quanh, nhu cầu được người khác thừa nhận tin tưởng và yêu thương. Đây là một dạng của NCVHTT, loại nhu cầu này xuất hiện muộn hơn so với hai loại nhu cầu trước, nhưng nó rất phong phú, tế nhị và phức tạp. Tầng 4: Nhu cầu được tôn trọng. Bởi vì, con người luôn luôn sống trong tập thể, trong xã hội nên họ có nhu cầu được người khác tôn trọng và bản thân họ cũng xuất hiện lòng tự trọng.
Họ cần người khác đánh giá đúng 11 phẩm chất, năng lực và những đóng góp khác của họ cho tập thể, cho xã hội. Họ tự hào về những kinh nghiệm tốt, những giá trị và những thành quả mà mình đã đạt được. Mặt khác, nhu cầu này còn được biểu hiện ở mong muốn có một địa vị cao trong xã hội để mọi người biết đến. Tầng 5: Nhu cầu tự hoàn thiện.
Đây là bước phát triển cao nhất của nhân cách, là sự mong muốn đạt tới chỗ cao nhất mà con người có thể đạt tới. Nhu cầu hoàn thiện là loại nhu cầu phức tạp nhất trong bảng hệ thống thang nhu cầu của Maslow. Loại nhu cầu này nói lên sự mong muốn thể hiện toàn bộ tiềm lực của con người, mong muốn cá nhân trưởng thành, có cơ hội cho sự phát triển và học hỏi. Trong 5 bậc thang về nhu cầu, có 2 nhu cầu phía dưới được coi là nhu cầu bậc thấp của con người, còn 3 loại nhu cầu phía trên là những nhu cầu bậc cao.
Nhu cầu bậc cao chỉ xuất hiện khi nhu cầu bậc thấp đã được thoả mãn, trường hợp nhu cầu bậc thấp chưa được thoả mãn thì nhu cầu bậc cao nếu có xuất hiện cũng không tạo thành động lực thúc đẩy hoạt động của con người. Có thể khẳng định Maslow là người nghiên cứu rất sâu về nhu cầu của con người, tuy không trực tiếp đề cập đến NCVHTT, nhưng trong thang nhu cầu 5 bậc mà Ông nêu ra cho thấy: 3 bậc phía trên là nhu cầu bậc cao và chính là các dạng khác nhau về NCVHTT của con người. Hạn chế lớn nhất của Ông là cho rằng nhu cầu bậc cao chỉ xuất hiện khi nhu cầu bậc thấp đã được thoả mãn. Như vậy, các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học ngoài Mácxít về nhu cầu đã có những đóng góp mới rất có giá trị cho lý thuyết về nhu cầu trong tâm lý học.