Chương 1 M ỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ GIẢI TRÍ VÀ NHU CẦU GIẢI TRÍ CỦA THANH NIÊN 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN c ứ u NHU CẨU GIẢI TRÍ: 1. MỘT SỐ HỌC THUYẾT, QUAN ĐIEM c ủ a c á c n h ả x ã h ộ i h ọ c l à m C ơ SỞ NGHIÊN CỨU NHU CẦU GIẢI TRÍ: * Cơ sở lý luận làm nền tảng nghiên cứu nhu cầu giải trí là lý th u y ế t về n h u cầu: Theo Từ điển tóm tắt Xã hội học tiếng Nga: “Nhu cầu là đòi liỏi điêu gì đó cần thiết đ ể đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con người, cùa nlĩóm xã hội hoặc toàn x ã hội nói chung; là nguồn thôi thúc nội tại của hành động' [174, tr. 243] Nhu cầu m ang tính sinh học, nhằm đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển sinh học của COI1 người.
Nhưng mặt khác, nhu cầu lại mang tính x ã hội , thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, dù là của riêng mỗi cá nhân nhưng nhu cầu chỉ có thể được đáp ứng nhờ nền sản xuất xã hội, bị nền sản xuất đó quy định, và vì vậy, chúng mang tính xã hội rõ nét: Các nền sản xuất đưa ra những sản phẩm khác nhau nên nhu cầu được thoả mẫn theo sự quy định của nền sản xuất. Thứ hai, cũng những nhu cầu như nhau nhưng mỗi thời đại, mỏi xã hội lại đáp ứng chúng theo những cách khác nhau, phù hợp với điều kiện lịch sử và mức độ phát triển xã hội đó. Max đã từng nói: “Cùng là cái đói, nlìỉtng cái đói được tliođ mãn bằng dĩa và dao khác với cái đói ngốn ngấu tliịt sống bằng bàn tay, móng tay và răng ” (X. chú thích 1, tr.
Và thứ ba, nhu cầu còn được đáp ứng trong khuôn khổ của phong tục tập quán (văn hoá) của cộng đồng và bị quy định bởi văn hoá cộng đồng. Chính bởi vậy nên mỗi xã hội đều có văn hoá ẩm thực, văn hoá trang phục. rất khác nhau. Nhu cẩu giải trí, với tư cách là một nhu cầu của con người, cũng hàm chứa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 hai khía cạnh: - Khía cạnh sinh học: Sự thoả mãn nhu cầu giải trí là điều kiện để cơ thể phục hồi sức khoẻ sau quá trình lao động, lấy lại thăng bằng tâm - sinh lý để có thể tiếp tục làm việc - Khía cạnh xã hội: Con người giải trí không phải chỉ để giải trí.
Mọi hoạt động của con người đều có m ục đích, và bởi vậy, giải trí cũng nhằm mục đích m ang lại cho họ sự phát triển về trí tuệ và nhân cách, sự thư thái, sảng khoái và những khoái cảm thẩm mỹ. Rõ ràng, tính khách quan của nhu cẩu giải trí là không thể phủ nhận. Nếu vì lý do nào đó m à nhu cầu này không được đáp ứng thoả đáng, nó sẽ dẫn COI1 người tới các lệch chuẩn xã hội. Các loại nhu cầu khác nhau không tồn tại đơn lẻ, tách rời, m à nằm trong mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, tương tác lẫn nhau.
Chúng tạo thành m ột hệ thống nhu cầu. H ệ th ố n g n h u c ầu được phân loại trên cơ sờ của nhiều tiêu chí khác nhau: - Theo tính chất: Có Nhu cầu tự nhiên (m ang tính bẩm sinh: nhu cầu ăn, ở, m ăc, an toàn tính m ạng.) và Nhu cầu xã hội (những nhu cầu do cuộc sống xã hội tạo nên: nhu cầu học tập, sáng tạo nghệ thuật, làm chính trị.) - Theo đối tượng thoả mãn nhu cầu: Có Nhu cầu vật chất (ăn, m ặc, m ua sắm các tiện nghi cá nhân và gia đình.) và Nhu cầu tinh thần (giao tiếp, thưởng thức nghệ thuật, vui chơi- giải trí.) - Theo lĩnh vực hoạt động: Có Nhu cầu kinh tế, Nhu cẩu chính trị, Nhu cầu văn hoá, Nhu cầu giáo dục, Nhu cầu tâm linh,. - Theo phương thức sử dụng sản phẩm của xã hội: Có Nhu cầu sản xuất (sử dụng các sản phẩm có sán với mục đích sản xuất ra các sản phẩm mới) và Nhu cầu tiêu dùng (sử dụng các sản phẩm có sẩn cho sinh hoạt cá nhân hoặc gia đình.) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9? - Theo mức độ cấp thiết phải đáp ứng: Có Nhu cầu tuyệt đối (các nhu cầu thiết yếu cơ bản đảm bảo sự tồn tại của COI) người: ăn 110, mặc ấm, đổ dùng đầy đủ. Những nhu cầu này nhất thiết phải được đáp ứng thì con người mới sống được) và Nhu cầu tương đối (những nhu cầu được nâng cao về mặt chất lượng: ăn ngon, mặc đẹp, đồ dùng tốt.
Những nhu cầu này được đáp ứng theo mức độ, tương ứng với trình độ phát triển của sản xuất xã hội và khả năng tài chính của cá nhân) - Theo nhóm xã hội: Có thể phân chia theo nhóm lứa tuổi (nhu cầu của trẻ em, nhu cầu của thanh niên, nhu cầu của người già.) theo nhóm nghề nghiệp (nhu cầu của nhóm công nhân, nhu cầu của nhóm nông dân.) theo khu vực cư trú (nhu cầu của cư dân thành thị, nhu cầu của cư dân nông thôn.) Nhu cầu giải trí thuộc phạm vi nhu cầu tinh thần, là một bộ phận cấu thành quan trọng của nhu cầu tinh thần (X. Các tác giả khi nghiên cứu về nhu cầu, đều thống nhất rằng nhu cầu là nguồn gốc m ọi hành động của con người [23, tr. Chính khi m ột nhu cầu xuất hiện, sẽ hình thành trong con người một động cơ, thôi thúc hành động để thoả mãn nhu cầu đó. N hà phân tâm học nổi tiếng Freud còn khẳng định rằng m ọi hiện tượng tâm lý (trong đó có nhu cầu) đều có nguồn năng lượng nuôi dưỡng, càng nhiều Iihu ;ầu thì nguồn năng lượng trong cơ thể càng lớn.
Nguồn năng lượng này tuân theo {Uy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng và cần được sử dụng hết. Nếu không lược sử dụng hoặc bị dồn nén, năng lượng đó sẽ tìm cách giải toả trong giấc mơ, rong các hành động phá phách, lố lăng. Còn khi được sử dụng đúng cách, nó có hể thăng hoa và giúp các thiên tài làm nên những kiệt tác nghệ thuật. V à như vậy, ton người chỉ có thể phát triển toàn diện khi các nhu cầu của mình được đáp ứng (ầy đủ.
Trong trường hợp ngược lại, họ sẽ bị kìm hãm và không thể phát triển hoặc ịhát triển lệch lạc. Liên hệ với nhu cầu giải trí, điều này cũng được khẳng định: Khi nhu cầu gải trí được đáp ứng thoả đáng, trí não được thư giãn, tinh thần được thanh thản, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 23 tâm hôn thêm trong sáng, đời sống cảm xúc thêm phong phú với nhiều rung cảm thẩm mỹ. Sự phát triển của COI1 người trở nên toàn diện. Ngược lại, khi nhu cầu giải trí không được đáp ứng đầy đủ, nguồn năng lượng tiềm ẩn không được sử dụng hết sẽ bột phát ra ngoài và được tiêu hao vào những trò chơi nguy hiểm , những trò quậy phá.
* K hi nghiên cứu về nhu cầu giải trí không thể không dựa trên cơ sở của lý th u y ết T h ờ i g ian rỗ i bởi các hoạt động giải trí diễn ra trong m ột khoảng thời gian dành riêng- thời gian rỗi. M arx, quỹ thời gian của xã hội và cá nhân được phân chia thành thời gian lao động và thời gian tự do. Thời gian lao động là khoảng thời gian tất yếu mà m ỗi cá nhân buộc phải thực hiện công việc lao động để đảm bảo sự sinh tồn; Thời gian tự do là khoảng thời gian còn lại ngoài thời gian lao động, dành cho những hoạt động m à cá nhân có quyền tự quyết định. Với M arx, khái niệm “thòfi gian rỗi” chư a xuất hiện, bởi khi đó các hoạt động giải trí chưa phong phú, công nghiệp giải trí chưa ra đời.
Tuy vậy, M arx cũng đã từng coi thời gian tự đo là khoảng thời gian dành cho sự thoải m ái, cho giải trí, và mở ra m ột khoảng trời cho những hoạt đ ộ n g tự do và sự phát triển [174, tr. Theo T ừ điển tóm tắt Xã hội học tiếng Nga, thời gian rỗi được coi là khái niệm đồng n g h ĩa với thời gian tự do, nghĩa là “phần thời gian ngoài lao động của cá nhân (nhóm x ã hội) còn lại sau klii đ ã trừ đi chi p h í thời gian cho những hoạt độr.g càn thiết không thể thiếu" [174, tr. Tuy nhiên, từ điển này cũng giải thích sự xuất hiện và phát triển của khái niêm Thời gian rỗi với tư cách m ột bộ phận cấu thành trong cơ cấu của thời gian tự do. Theo chúng tôi, Thời gian rỗi là khoảng thời gian mà trong đó con người ktìô ig bị thúc bách bởi các /lim cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi bất cứ nghĩa vụ khá:h quan nào.
Nó được dành cho các hoạt động tự nguyện, theo sở thích của chủ th ể thâm th o ả mân nhu câu tinli thần của con người (hoạt độnẹ i>iải trí). Cấc nhà xã hội học marxist cho rằng việc sử dụng thời gian rỗi phụ thuộc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 24 vào 1/ Mức độ phát triển của các nhu cầu cá nhân, mà trước hết là nhu cầu tinh thần; 2/ Trình độ phát triển của giáo dục và văn hoá; 3/ Sự hiểu biết và các kỹ năng mà một lĩnh vực hoạt động nào đó có được. Nó phụ thuộc không chỉ vào điều kiện sống hiện tại của con người, mà còn vào sự giáo dục ở gia đình và nhà trường từ khi họ còn nhỏ [170, tr. Trong khi đó, Dumazedier (nhà xã hội học giải trí người Pháp) coi giải trí như sự biến đổi về chất của xã hội công nghiệp, từ chỗ bị bóc lột thô bạo bằng việc kéo dài thời gian lao động, người công nhân đã có được quyền nghỉ ngơi và giải trí m à vẫn được hưởng lương.
Sự tiên đoán của ông về xã hội hậu công nghiệp được thể hiện trong luận điểm về một “xã hội giải trí” [142], là xã hội mà thời gian lao động được rút ngắn tới mức tối thiểu nhường phần áp đảo cho thời gian rỗi, và mối quan tâm của xã hội không phải là làm gì để sống mà là làm thế nào để giải trí tốt hơn. Có thể hiểu được Dumazedier thông qua tiên đoán của Marx rằng ở xã hội tương lai, lao động không còn cực nhọc mà là lao động sáng tạo, mang lại niểm vui và trở thành một hình thức giải trí.