CHƯƠNG 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA NHU CẦU ĐỌC ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN TRONG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1.2 Một số khái niệm 1.1 Nhu cầu ñọc 1.1 Khái niệm về nhu cầu Theo tâm lý học “Nhu cầu là ñòi hỏi khách quan của con người với một ñối tượng nhất ñịnh, trong những ñiều kiện nhất ñịnh ñể ñảm bảo duy trì sự sống và sự phát triển của con người”[19]. Nói cách khác, ñó là sự ñòi hỏi tất yếu của con người ñể thỏa mãn một vấn ñề nào ñó của cuộc sống. Tính chất của nhu cầu Tính xã hội: Nhu cầu xuất hiện nhằm ñể duy trì sự sống và sự phát triển của con người, nó là sản phẩm của ñời sống xã hội. Nhu cầu hình thành do kết quả của sự tác ñộng giữa hoàn cảnh bên ngoài và trạng thái bên trong của chủ thể.
Nhu cầu phát triển dưới sự chi phối trực tiếp của ñiều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa ở một giai ñoạn nhất ñịnh, từ một ñịa bàn cụ thể. Tính bền vững (Tính chu kỳ): Nhu cầu khi mới xuất hiện thường ở cường ñộ thấp, chưa ñược chủ thể nhận thức, ñến một lúc nào ñó nhu cầu ngày càng phát triển gay gắt hơn dối tượng nhận thức con người thì nhu cầu ñòi hỏi phải ñược thỏa mãn. Khi ñược thỏa mãn, nhu cầu tạm thời ñược lắng dịu, nhưng sau một khoảng thời gian nhất ñịnh (tùy theo tính chất của nhu cầu và ñối tượng thỏa mãn nó) nhu cầu ñó lại xuất hiện và bắt ñầu một chu kỳ mới. Tính cơ ñộng (Tính mềm dẻo của nhu cầu): nhu cầu biến ñổi trong một số ñiều kiện nhất ñịnh, các phương tiện thỏa mãn nhu cầu cơ ñộng và biến ñổi không ngừng.
Nhu cầu của con người có thể phát triển hoặc thoái hóa ñi tùy theo phương thức và cách thức thỏa mãn nó. Khi nhu cầu ñược thỏa mãn ñầy ñủ, tính nhạy cảm của chủ thể tăng lên và ngược lại, nếu nhu cầu không ñược thỏa mãn ñầy ñủ, tính nhạy cảm của chủ thể sẽ giảm xuống và mất dần. 10 Điều kiện nảy sinh nhu cầu: sự tiêu thụ một ñối tượng nào ñó ñược lặp ñi, lặp lại một cách hệ thống trở thành thói quen. Sự tiêu thụ ñối tượng xuất hiện và phát triển trong quá trình tiến hành một ñối tượng nào ñó, giúp cho hoạt ñộng ñạt hiệu quả cao hơn.
Sự tiêu thụ ñó chiếm tỷ trọng ngày càng lớn do chủ thể ý thức ñược ý nghĩa của ñối tượng ñối với xã hội và bản thân. Khái niệm về nhu cầu ñọc “Nhu cầu ñọc là ñòi hỏi khách quan của chủ thể (cá nhân hoặc nhóm) ñối với việc tiếp nhận và sử dụng tài liệu nhằm duy trì và phát triển các hoạt ñộng sống của con người”[19]. Là một loại nhu cầu tinh thần bậc cao của con người vì chỉ có con người mới có khả năng giải mã thông tin, mới có khả năng hình thành nhu cầu ñọc. Nhu cầu ñọc ñược hình thành bởi hai yếu tố: giá trị của những tri thức chứa ñựng trong tài liệu và những ñòi hỏi thiết yếu của con người trong những ñiều kiện, hoàn cảnh nhất ñịnh.
Nhu cầu ñọc còn bị hạn chế bởi hai ñiều kiện: người ñọc phải hiểu ñược ngôn ngữ viết trong tài liệu và tri thức chứa ñựng trong tài liệu phải có liên hệ thiết thực với tư duy của người ñọc. Một trong những yếu tố tác ñộng lớn ñến nhu cầu ñọc là hứng thú ñọc, ñó là thái ñộ lựa chọn tích cực của chủ thể (cá nhân hoặc nhóm) với việc ñọc những tài liệu có ý nghĩa và có sức hấp dẫn về mặt tình cảm. Đó là nhu cầu ñã ổn ñịnh và khi ñược thỏa mãn nó ñem lại một sự khoái cảm nhất ñịnh cho con người. Nói cách khác, hứng thú là nhu cầu ñược thực hiện ñi thực hiện lại và trở thành thói quen.
Do vậy, hứng thú thường có sự ổn ñịnh tương ñối và mang tính chủ quan nhiều. Hứng thú bắt nguồn từ nhu cầu nhưng hứng thú và nhu cầu không phải là một, ở nhiều người có thể có nhu cầu giống nhau nhưng hứng thú lại hoàn toàn khác nhau. Về tính chất của nhu cầu ñọc: - Tính xã hội (bị ảnh hưởng bởi tính chất xã hội) : 11 + Điều kiện văn hóa: Nội dung nhu cầu ñọc do trình ñộ văn hóa chung quyết ñịnh. + Điều kiện kinh tế: Các yếu tố kinh tế chi phối phương thức thỏa mãn nhu cầu ñọc.
+ Điều kiện xã hội: Quan hệ chính trị có ảnh hưởng lớn tới xu hướng hình thành và phát triển nhu cầu ñọc. - Tính chu kỳ: Nhu cầu ñọc là một loại nhu cầu của con người, nhu cầu ñọc cũng tồn tại và phát triển theo chu kỳ nhất ñịnh. Nhu cầu ñọc khi ñược thoả mãn sẽ tạm thời lắng dịu và sau một khoảng thời gian nhất ñịnh thì nó xuất hiện trở lại, nếu ñược thỏa mãn ñến mức tối ña thì chu kỳ ñọc rút ngắn lại. - Tính cơ ñộng: Nhu cầu ñọc có thể sinh ra và mất ñi trong những ñiều kiện nhất ñịnh.
Nếu nhu cầu ñọc ñược thỏa mãn ñầy ñủ thì nó sẽ phát triển ở mức ñộ cao hơn. Nhu cầu ñọc mất ñi khi ñối tượng không ñược ñáp ứng hoặc liên tục không ñược ñáp ứng ñúng. Về cơ chế sinh lý nhu cầu ñọc: Nhu cầu ñọc phát sinh bắt nguồn từ nhu cầu ñịnh hướng tìm tòi của con người. Hoạt ñộng tìm tòi của con người ñược tiến hành thường xuyên dẫn ñến một 12 số tế bào thần kinh ñược chuyên môn hóa, có cơ chế hoạt ñộng nhất ñịnh.
Khi hoạt ñộng tìm tòi tạm ngừng dẫn ñến rối loạn các quá trình dinh dưỡng cho số tế bào ñó và gây nên tâm trạng nặng nề, từ ñó nhu cầu ñọc xuất hiện. Cơ chế hình thành nhu cầu ñọc là thường xuyên kích thích trí tò mò ở một lĩnh vực nào ñó hoặc nhắc ñi nhắc lại một kênh thông tin nào ñó dẫn ñến một số tế bào ñược chuyên môn hóa tiếp nhận thông tin. Ngày nay cùng với sự phát triển khoa học công nghệ và sự bùng nổ thông tin làm xuất hiện thuật ngữ nhu cầu tin. Nhu cầu tin và nhu cầu ñọc ñều ñược hình thành dựa trên sự ñòi hỏi khách quan của con người ñối với việc tiếp nhận và sử dụng tài liệu, là loại nhu cầu tinh thần bậc cao của con người.
Tuy nhiên, nhu cầu tin ñược hiểu rộng hơn, bao quát hơn và cán bộ thư viện – thông tin xem nhu cầu ñọc là một phần của nhu cầu tin trong hoạt ñộng thông tin - thư viên hiện nay.2 Người ñọc 1.1 Khái niệm người ñọc Theo các tài liệu sử học và khảo cổ học, thư viện xuất hiện vào khoảng 2750 năm trước công nguyên. Đó là thư viện của nhà vua Xarơgon I ở thành phố Acañơ (hiện nay thuộc Irắc). Đặc biệt vào khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyên, thư viện Alêchxăngñri ñược thành lập bên bờ biển phía tây Ai cập và ñược coi là thư viện công cộng ñầu tiên trên thế giới. Ở nước ta thư viện cũng xuất hiện khá sớm, ñó là tàng thư Trần Phúc (1011), tàng kinh Bát Giác (1021), tàng kinh Đại Hưng (1023).
Đặc biệt phải kể ñến Bí Thư Các ñược xây dựng trong Quốc Tử Giám thời Lý Nhân Tông (1087). Cùng với việc các thư viện xuất hiện, người ñọc (ñối tượng sử dụng thư viện) cũng ngày càng ñông ñảo. Chữ Hán gọi người ñọc là ñộc giả. Theo Đại từ ñiển tiếng Việt của Nguyễn Như thì: ñộc là ñọc, giả là người hoặc kẻ.
Tiếng Anh gọi người ñọc là Reader. Ngày nay các thư viện nước ngoài thường gọi người ñọc với nhiều thuật ngữ khác nhau như: Library user (Người sử dụng thư viện), Information user (Người dùng tin), 13 Client (Khách hàng), Customer (Khách hàng), Patron (Khách hàng), User (Người sử dụng) Tuy các thuật ngữ trên có tên gọi khác nhau, nhưng bản chất của chúng không khác nhau nhiều, chúng ñều có nghĩa là người sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của thư viện và cơ quan thông tin. Mỗi thư viện dùng những thuật ngữ khác nhau ñể nói về những ñối tượng sử dụng các sản phẩm và dịch vụ mình phục vụ. Như vậy, theo Từ ñiển giải nghĩa Thư viện học và Tin học Anh - Việt thì “Người ñọc là người sử dụng thư viện (Library User)” [2, tr.2 Phân loại người ñọc Tùy vào hoạt ñộng xã hội mà người ñọc tham gia vào mục ñích ñọc khác nhau, nên có nhiều cơ sở phân loại người ñọc.
Nhưng, cơ sở chủ yếu nhất là dựa vào trình ñộ văn hóa, lứa tuổi và nghề nghiệp của người ñọc. Dựa trên cơ sở này, có những nhóm người ñọc như sau [6, tr.180-182]: Nhóm người ñọc là cán bộ quản lý: Cán bộ quản lý là những người có uy tín, năng lực trí tuệ, có khả năng sắp xếp và ñiều hành tốt các công việc quản lý bằng sự hiểu biết, tính sáng tạo và khả năng ñánh giá tương ñối chính xác về “con người”, ñể sử dụng những “con người” ñó vào công việc phù hợp với năng lực bản thân họ. Cán bộ quản lý phải có khả năng thuyết phục, cảm hóa cấp dưới, phải mềm dẻo nhưng kiên quyết trong việc giải quyết vấn ñề. Do vậy, cán bộ quản lý là người trực tiếp ra quyết ñịnh ñể giải quyết các công việc của các cơ quan, tổ chức.
Cán bộ quản lý ở cấp bậc càng cao, thì mức ñộ ảnh hưởng của việc ra quyết ñịnh càng lớn. Kết quả của việc ra quyết ñịnh phụ thuộc vào nhiều nguồn thông tin mà cán bộ quản lý thu thập ñược. Do ñó, họ phải là người chủ ñộng tìm kiếm thông tin, trau dồi và bồi dưỡng thêm kiến thức một cách thường xuyên, kịp thời, phải biết chọn lọc những loại thông tin vừa rộng, vừa sâu, vừa có tính chất ñặc biệt và hình thức thông tin phải ña dạng ở nhiều mức 14 ñộ khác nhau như: thông tin tác nghiệp, thông tin sách lược, thông tin chiến lược,… ñể giải quyết các vấn ñề phục vụ cho công tác quản lý của mình. Cán bộ quản lý ở cấp bậc càng cao thì nhu cầu ñọc các loại thông tin càng phong phú và ña dạng, chẳng hạn: cán bộ quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ cần thông tin rộng hơn, phong phú và bao quát hơn cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo; hoặc cán bộ lãnh ñạo của Đảng và Nhà nước (Bí thư, Chủ tịch nước) cần thông tin về nhiều lĩnh vực hơn: từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, ñến những lĩnh vực khoa học kỹ thuật,.
những thông tin ñó phải ñược chọn lọc, khái quát, ngắn gọn và kịp thời.