mở đầu sự nghiệp thống nhất đất nước có phần đóng góp rất lớn của nhân dân Quảng Nam. Luan van 12 Năm 1806, vua Gia Long thống nhất đất nước về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất Kinh Kỳ gồm Trực Lệ - Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam doanh. Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này.
Tỉnh Quảng Nam được chia thành 8 phủ - huyện gồm Hòa Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước. Năm 1888, dưới thời vua Thành Thái, Đà Nẵng thị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của thực dân Pháp. Sau hiệp định Giơnevơ dưới chế độ Việt Nam cộng hòa, tỉnh Quảng Nam (1956) bị chia thành hai tỉnh mới là Quảng Nam ở phía Bắc gồm các quận Hòa Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, Đức Dục, Hiếu Đức, Quế Sơn, Thường Tín và Quảng Tín; ở phía Nam gồm Thăng Bình, Tiên Phước, Hậu Đức, Lý Tín, Hiệp Đức, Tam Kỳ. Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định sát nhập hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và thành phố Đà Nẵng, thành lập tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng với Đà Nẵng là tỉnh lị.
Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng gồm thành phố Đà Nẵng và các huyện Hòa Vang, Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Đại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Tiên Giang, Phước Sơn, Trà My.1997, tại kỳ họp thứ X của quốc hội, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được chia thành hai đơn vị hành chính độc lập gồm: Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam mới có 15 huyện gồm: Giằng (nay là huyện Nam Giang), Hiên (nay là Đông Giang, Tây Giang), Đại Lộc, Phước Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn (nay là Quế Sơn và Nông Sơn), Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My (nay là Bắc Trà My và Nam Trà My), Núi Thành và 2 thị xã là Tam Kỳ (nay là thành phố tỉnh lị Tam Kỳ và huyện Phú Ninh) và thị xã Hội An (nay là thành phố Hội An). Xuyên suốt lịch sử hình thành và phát triển, Quảng Nam với ý nghĩa là vùng đất rộng lớn về phương Nam được hình thành khá sớm và được biết đến là “đất văn hóa”, “đất khoa bảng”, “đất địa linh nhân kiệt” - nơi đã sản sinh ra biết bao tài Luan van 13 danh, hào kiệt cho đất nước. Không những thế, nói đến Quảng Nam là nói đến mảnh đất “trung dũng kiên cường”, giàu lòng yêu nước và truyền thống cách mạng, đã sinh dưỡng những danh nhân kiệt xuất, những bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Giáo dục, khoa cử Việt Nam dưới triều Nguyễn và truyền thống giáo dục Nho học của Quảng Nam 1. Giáo dục, khoa cử Việt Nam dưới triều Nguyễn Với việc lật đổ vương triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lập ra vương triều Nguyễn (1802-1945). Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam, lãnh thổ đất nước được nối liền một dải từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái. Để phục vụ đắc lực cho việc củng cố chính quyền quân chủ trung ương tập quyền, bên cạnh việc thống nhất về mặt lãnh thổ, nhà Nguyễn còn ra sức củng cố sự thống nhất về mặt chính quyền, tư tưởng.
Chính vì vậy, một lần nữa Nho giáo lại được đưa lên vị trí độc tôn vốn đã bị suy đồi trong các thế kỷ trước. Nhà Nguyễn lên ngôi dựa trên việc lật đổ các vương triều Tây Sơn - một vương triều tiến bộ lúc bấy giờ. Chính vì vậy, ngay từ đầu, nhà Nguyễn đã không được lòng dân, không được sự ủng hộ của tầng lớp trí thức. Ý thức được điều đó, ngay từ khi mới lên ngôi, các vua đầu triều Nguyễn rất mực quan tâm đến việc tổ chức giáo dục, khoa cử và đào tạo đội ngũ quan lại giúp vua quản lý đất nước.
Nhà Nguyễn đã có sự tham khảo và kế thừa chế độ giáo dục, khoa cử trong nước (đặc biệt giáo dục khoa cử triều Lê Thánh Tông) và nước ngoài (đặc biệt là giáo dục, khoa cử của nhà Thanh ở Trung Quốc). Trước hết, để chấn chỉnh Nho giáo, nhà Nguyễn đã cho tổ chức và chấn chỉnh các kì thi, củng cố hệ thống trường học. Gia Long - vị vua đầu tiên của triều Nguyễn đã ra chỉ dụ: “đạo trị nước tất phải lấy việc gây dựng nhân tài làm việc ưu tiên mà phương pháp gây dựng là phải nuôi cho có sẵn. Trẫm muốn bắt chước người xưa đặt nhà học, nuôi học trò, ngõ hầu văn phong dấy lên, hiền tài đều nổi lên để cho nước nhà dùng” 32 ,212 .
Năm 1821, vua Minh Mạng cho mở rộng Quốc Tử Giám và dựng nhà Di Luân Đường, giảng đường và các phòng cho tôn sinh. Để phụ trách Quốc Tử Giám, triều đình đặt thêm các chức quan để dạy và trông coi như Tế tửu và Tu nghiệp. Luan van 14 Cùng với việc trên, nhà nước không ngừng mở rộng hệ thống trường học, trường công mở đến tận phủ, huyện, do các quan trông coi như: trường huyện có Huấn đạo, trường phủ có Giáo thụ, trường tỉnh có Đốc học… Các viên quan này đều phải có học vị, kiến thức và đạo đức mới được bổ dụng. Hệ thống trường học ở địa phương và các trường tư khá phát triển, do các nho sĩ không làm quan về mở trường dạy học (tính đến thời Tự Đức (1864-1875) cả nước gồm 31 tỉnh và đạo, chia thành 321 phủ, huyện và tổng thì đã có tới 158 trường học).
Nội dung dạy học cũng giống như các triều đại trước, đặc biệt là giống triều Lê, nghĩa là trẻ con học Tam Tự Kinh, Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi, Minh đạo gia huấn…những sách này giúp cho các em biết chữ và những kiến thức sơ lược về học thuyết nho giáo, về tự nhiên, xã hội mà không cần hiểu ý nghĩa sâu xa. Tuy nhiên, để có thể tham gia vào các kì thi hương, thi hội thì thí sinh phải học các sách kinh điển của nho gia như Tứ thư, Ngũ kinh…xem những sách đó là “khuôn vàng thước ngọc”, là tư tưởng chính thống của tiên thánh, tiên vương. Bên cạnh giáo dục thì không thể thiếu khoa cử và đây là con đường tuyển chọn nhân tài cho đất nước. Vua Gia Long lên ngôi và nhờ chính sách “khoa mục là con đường bằng phẳng của học trò, thực không thể thiếu được, phải nên giáo dục thành tài rồi sau đó thi hương thi hội lần lượt cử hành thì người hiền tài sẽ nối nhau lên giúp việc” 31,123 .
Thời Minh Mạng, thể lệ thi cử được quy định chặt chẽ và nghiêm cẩn nhất. Năm 1822, bắt đầu thi Hội, thi Đình và từ năm 1829 nhà nước đặt thêm học vị Phó bảng. Sở dĩ có hiện tượng này là do vua Minh Mệnh muốn tránh sự bất công đối với những thí sinh chỉ vì rớt thi đình (thi đình chỉ làm một bài văn để xếp hạng) mà người rớt phải sau ba năm kế tiếp mới được thi hội lại (với thời gian ba năm ấy không chắc gì họ thi đỗ do yếu tố tâm lý, kinh tế và một số hoàn cảnh bên ngoài tác động) và như vậy chẳng những sĩ tử thiệt thòi mà triều đình cũng mất đi nhân tài. Bởi lẽ nhiều vị phó bảng (tức rớt thi đình) từng giữ nhiệm vụ tối quan trọng và phục vụ đắc lực cho triều đình không thua gì các vị tiến sĩ cụ thể như: Phó bảng Nguyễn Văn Dục, Nguyễn Đình Tựu, Hoàng Diệu, Hà Đình Nguyễn Thuật, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Trân, Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh.
Thời Thiệu Luan van 15 Trị, khoa thi Hội mở càng nhiều do mở thêm các kì ân khoa. Nhờ vậy mà giáo dục, khoa cử đầu triều Nguyễn có nhiều khởi sắc. Từ thời Minh Mạng cho đến thời Tự Đức (1822-1851), trong khoảng chưa đầy 30 năm mà triều Nguyễn đã mở được 15 khoa thi Hội, lấy đỗ 136 tiến sĩ và 87 phó bảng. Dưới triều Nguyễn không lấy Trạng Nguyên do lệ “tứ bất” (bất thiết Tể tướng, bất cử Trạng nguyên, bất lập Thái tử, bất phong Hoàng hậu) nhưng lại lấy thêm học vị phó bảng, cho nên số lượng đỗ đạt khá cao.
Nho sinh chủ yếu vẫn phải trải qua các kì thi như Kinh nghĩa, Chiếu biểu, Văn Sách, thơ, phú và thứ tự các kì thi có sự thay đổi vị trí cho nhau. Đặc biệt là từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thì Nho học tàn lụi dần. Lúc này, hệ ý thức phong kiến tỏ ra bất lực trước làn sóng của văn minh phương Tây. Kể từ khoa Đinh Mão (1867) các trường thi Nam Kỳ rời khỏi khoa cử Nho học.
Đầu thế kỷ XIX, tiếng Pháp và các môn học như Địa lý, Toán học…len lỏi vào trong nội dung học tập, thi cử và rồi tiếng chuông của khoa thi chữ Hán cuối cùng cũng đã vang lên năm Kỷ Mùi (1919) kết thúc khoa cử chữ Hán ở nước ta. Nếu như nền giáo dục khoa cử Nho học ở thế kỷ XV còn tiến bộ thì đến thế kỷ XIX trước sự phát triển của chủ nghĩa tư bản phương Tây và trước làn sóng của nền văn minh công nghiệp nó đã trở nên lỗi thời, kìm hãm trí tuệ con người làm cho tình trạng “dân ngu, nước yếu” kéo dài. Truyền thống giáo dục Nho học của Quảng Nam Với việc lập văn miếu năm 1070 rồi tổ chức thi Nho học tam trường vào năm 1075, triều Lý đã khẳng định sự lựa chọn Nho giáo trong việc giáo dục chính thống. Từ đó cho đến khi kì thi Nho học cuối cùng được tổ chức vào năm 1919, đã có rất nhiều kẻ sĩ được đào tạo từ môi trường này, góp phần cho sự phát triển của đất nước.
Quảng Nam là vùng đất tương đối mới của Việt Nam, sau cuộc bình chiêm của vua Lê Thánh Tông, năm 1471 (Tân Mão) thành lập Thừa Tuyên Quảng Nam, nhưng việc ổn định và hòa hợp các sắc tộc nơi đây mất gần một thế kỉ. Nguyên nhân chính là “…những vùng lãnh thổ mới, từ lâu do người Chăm và người Môn Khơme chiếm cứ, họ không biết đến truyền thống Nho giáo của nền văn hóa Việt Luan van 16 Nam”. Phải đến năm 1777, chúa Trịnh cho mở trường thi hương ở Thuận hóa cho học trò Quảng Nam phụ thí. “ Đã niêm yết giấy biểu thị nhiều ngày nhưng chưa thấy một người nào nộp quyển thi.
Xin làm việc tòng quyền tùy theo sở trường của Nho sĩ bản địa, tạm cho ai thông thơ văn và nói được thời sự thì tập hợp họ lại khảo thí, liệu chọn lấy một số hương cống, sinh đồ, để cổ động người học tập”.