phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương và 7 tiết. Chƣơng 1: Quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình Chƣơng 2: Một số ý nghĩa tư tưởng đạo đức gia đình Nho giáo đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình mới ở Sơn Tây hiện nay. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH 1. Điều kiện kinh tế chính trị xã hội và tiền đề tƣ tƣởng văn hóa cho sự hình thành phát triển tƣ tƣởng Nho giáo về đạo đức và đạo đức gia đình 1.
Điều kiện kinh tế chính trị xã hội Nho giáo ra đời ở Trung Quốc vào thời Xuân Thu - Chiến quốc (770 - 221 TCN). Đây là thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ, bước vào thời kỳ phong kiến sơ kỳ, với những đặc điểm như sau. Kinh tế đang có sự chuyển biến mạnh mẽ từ thời đại đồ đồng sang đồ sắt, với nhiều công cụ lao động hiện đại hơn trước rất nhiều, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, của cải bắt đầu có sự dư thừa, xã hội biến động. Điều này đã dẫn đến sự thay đổi mọi mặt đời sống văn hóa chính trị - xã hội của thời kỳ này.
Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất là cơ sở cho sự ra đời, xuất hiện của nhiều giai cấp và tầng lớp mới trong xã hội, cùng với đó là sự xuất hiện nhiều mâu thuẫn gay gắt: mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc nhà Chu và giai cấp địa chủ mới với dân, mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc cũ và tầng lớp quý tộc mới. Về mặt xã hội, mâu thuẫn gay gắt nhất là mâu thuẫn giữa Thiên tử và các nước chư hầu, mâu thuẫn gay gắt trong tầng lớp quý tộc, đã làm cho xã hội ngày càng rối ren, trật tự xã hội bị đảo lộn. Người ta cướp bóc, tranh giành nhau về địa vị, quyền lợi. Khổng Tử đã gọi đây là thời kỳ con người sống vô đạo, quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử.
Mâu thuẫn xã hội và chiến tranh giữa các nước chư hầu kéo dài đã làm cho đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Trong điều kiện kinh tế - xã hội rối ren như thế, các nước đều muốn nắm giữ quyền lực của mình đã rất trọng kẻ sỹ, những ai có tri thức mưu lược, có kế sách trị quốc đều được trọng dụng. Các học thuyết 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này đều tập trung giải quyết những vấn đề lớn, những câu hỏi lớn của thời đại, thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Làm thế nào mà nước từ loạn trở thành thái bình thịnh trị? Do đó yêu cầu thực tiễn thúc đẩy có rất nhiều học thuyết chính trị xã hội thời kỳ này nở rộ và phát triển.
Người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ “Bách gia tranh minh” (Trăm nhà đua tiếng) bao gồm nhiều học phái như: Nho gia, Âm dương gia, Mặc gia, Pháp gia, bằng cách này hay cách khác các học phái đều đưa ra những phương pháp trị quốc theo quan điểm riêng của mình. Các nước chư hầu chiến tranh kéo dài liên tục nhằm thôn tính nhau, tranh giành đất đai và cư dân hết sức khốc liệt như Mạnh Tử đã mô tả. Người ta đã tính rằng, riêng thời Xuân Thu khoảng 242 năm thì có tới 483 cuộc chiến tranh xảy ra, số các nước thu hẹp dần từ cả nghìn nước đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơn trăm nước… Trong số những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ, chỉ còn năm nước (Ngũ Bá) là: Tề, Tấn, Sở, Tần, Tống, sau này lại thêm hai nước nữa là Ngô và Việt. Phái Pháp gia đưa ra quan điểm trị quốc phải dựa vào pháp luật, phái Mặc Gia cho rằng phải “Kiêm ái”….
Để khắc phục tình tình trạng vô đạo, phi đạo đức, cần đưa xã hội từ hỗn loạn đến thịnh trị, kiến tạo một xã hội có đạo đức, dùng Đức để trị quốc. Khổng Tử và nhiều nhà Nho cho rằng, biện pháp tốt nhất, hữu hiệu nhất là phải đưa ra các chuẩn mực, những quy phạm đạo đức để từ trong thời thơ ấu, trong gia đình tới ngoài xã hội, mỗi người đều được giáo dục tu dưỡng, rèn luyện mà nhờ nó loại trừ hành động phi nhân tính, phi đạo đức, tự giáo dục, tự hoàn thiện đạo đức cho mình. Đồng thời, các chuẩn mực, quy phạm đạo đức này còn để điều chỉnh mọi hành vi, suy nghĩ, hành động của con người trong mối quan hệ gia đình và mở rộng ra quan hệ ngoài xã hội. Nghĩa là, theo các nhà Nho, xây dựng thể chế xã hội chặt chẽ, từ cấp tế bào vi mô là “đạo trong nhà”, mở rộng ra là đạo đức quốc gia, xã hội, theo quy tắc đạo đức để giáo dục con người là một biện pháp cần thiết, hữu hiệu nhất để loại trừ xã hội vô đạo và kiến tạo xã 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội ổn định thái bình có đạo đức.
Giáo dục đạo lý từ trong nhà là những phương tiện cơ bản để cải biến con người từ dã nhân, thành thánh thiện thánh nhân. Ngoài ra, những chuẩn mực, những quy phạm đạo đức ấy còn có vai trò như một công cụ quan trọng nhất, để củng cố, duy trì trật tự, kỷ cương xã hội. Chính vì vậy mà, học thuyết đạo đức là một trong những nội dung chủ yếu của Nho giáo.Trong số các học phái xuất hiện thời kỳ đó, Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức tiêu biểu nhất và có ảnh hưởng lâu dài nhất ở Trung Quốc, cũng như nhiều nước khác trong khu vực như: Nhật Bản, Triều Tiên, Singapo. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia tiếp nhận Nho giáo và chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo, đạo đức Nho giáo, trong đó có đạo đức gia đình của Nho giáo từ rất sớm.
Khổng Tử (551 - 479 TCN), người sáng lập ra trường phái Nho gia. Ông là người nước Lỗ, sống trong thời kỳ loạn lạc, được tận mắt chứng kiến cảnh chiến tranh, cướp bóc. Khổng Tử luôn ôm ấp hoài bão chính trị là xây dựng xã hội thái bình thịnh trị. Ông cho rằng, phải dùng đức trị, nhân trị, lễ trị thì xã hội mới “hữu đạo” thịnh trị.
Tư tưởng này của ông được các thế hệ học trò tiếp tục kế thừa và phát triển. Mạnh Tử là người bảo vệ và phát huy tư tưởng của Khổng Tử, mong muốn dùng thuyết Đức trị để cứu đời, ổn định xã hội. Ông thấy được vai trò, sức mạnh của đạo đức trong gia đình, chủ trương phải lấy việc giáo dục, tự giáo dục đạo đức từ trong gia đình ra cả xã hội làm đường hướng căn bản để xây dựng con người lý tưởng, xã hội lý tưởng. Lời giáo huấn của ông được các học trò biên soạn thành sách gọi là “Luận Ngữ” đã có ảnh hưởng rất lớn.
Mạnh Tử (372- 289 Trước công nguyên), Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, tự là Dư Tử, người gốc nước Trâu, thuộc miền Nam tỉnh Sơn Đông Trung Quốc ngày nay. Ông thuộc dòng tông tộc Mạnh Tôn, Cha là Khích Công Nghi, Mẹ là Cừu Thị. Khi ông lên ba tuổi thì cha mất, được mẹ nuôi dưỡng, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục lễ nghĩa rất chặt chẽ và chọn chỗ ở gần trường học để con bà học tập theo lễ nhạc. Về sau ông phát triển tư tưởng Nho giáo lên một trình độ mới và là một học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử.
Để bảo vệ và phát huy tư tưởng của Khổng Tử, mong muốn dùng thuyết của mình để cứu đời, Mạnh Tử đã đi khắp các nước chư hầu như nước Tề, nước Lỗ, nước Lương, nước Tống, nước Đằng để truyền bá tư tưởng, chủ trương “vương đạo nhân chính” của mình. Nhưng vì thưở ấy vua các nước chỉ lo thực thi bá đạo, lấy việc chiến tranh thôn tính lẫn nhau, không ai lo để ý đến tu dưỡng đạo đức việc nhân nghĩa, vì thế ông đi đến đâu cũng không đạt được ý muốn. Ông bắt chước thầy lui về dạy học và cùng với học trò của mình, biên tập sắp đặt thứ tự trong Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, thuật rõ cái ý của Khổng Tử. Học trò ông ghi chép những lời ông đã bàn luận với các vua chư hầu và những lời phê bình của ông với các học thuyết khác, làm ra bảy thiên sách có tên sách Mạnh Tử.
Sau này đến đời Tống, Chu Hy, đã xếp cuốn Mạnh Tử là một trong những sách kinh điển của Nho gia gọi là Tứ Thư gồm Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung dung. Trong sách Mạnh Tử đã tiếp tục kế tục và phát triển tư tưởng của Khổng Tử về đạo đức, ông thấy được vai trò, sức mạnh của đạo đức trong gia đình và đã chủ trương phải lấy việc giáo dục, tự giáo dục đạo đức từ trong gia đình làm đường hướng căn bản để xây dựng con người lý tưởng, xã hội lý tưởng. Tiền đề văn hóa tư tưởng Cũng giống như các hệ tư tưởng khác, Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời trên cơ sở hiện thực của xã hội. Chính tiền đề văn hóa tư tưởng về thực tiễn xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc, là cơ sở trực tiếp nhất cho sự ra đời của đạo đức Nho giáo nói chung và đạo đức gia đình Nho giáo nói riêng.
Do đó, nền tảng văn hóa đạo đức truyền thống của xã hội Trung Hoa cũng là cơ sở cho sự ra đời của đạo đức Nho giáo về gia đình. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung Hoa vốn là một quốc gia rộng lớn, đông dân cư, là cái nôi văn minh của nhân loại, là một trong ba nền văn minh cổ đại. Theo nhiều nhà nghiên cứu, chữ viết ở Trung Hoa xuất hiện từ rất sớm, từ khoảng thế kỷ XIII - XII TCN. Những hiểu biết của người Trung Quốc thời cổ đại cách đây 3000 năm về các lĩnh vực như địa lý, trồng trọt, chăn nuôi, thiên văn học, xây dựng thiết chế lễ nghi … rất sâu sắc.
Đặc biệt, xã hội dựa trên cấu trúc là các dòng tộc rất lớn, chế độ tông tộc kéo dài. Họ biết làm ra lịch, một năm có 4 mùa, phát minh này có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp. Có nhiều bài thuốc quý và nhiều cách chữa bệnh hữu hiệu đã được ghi chép vào sách vở. Khổng Tử kế thừa biên soạn nhiều bộ sách, về sau được coi là kinh điển của Nho giáo như: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu.