Chương 1 .Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Chương 2. Diện mạo chung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 và sự tiếp nối đề tài ngƣời trí thức trong văn học - Chương 3. Nhân vật ngƣời trí thức trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nhìn từ đặc điểm loại hình - Chương 4. Nhân vật ngƣời trí thức trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nhìn từ phƣơng thức biểu hiện.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài của luận án 1. Khái niệm loại hình nhân vật “Loại hình” (Tiếng Anh là type) có nghĩa là kiểu, loại.
Theo Từ điển tiếng Việt, “loại hình” là khái niệm đƣợc dùng để gọi “tập hợp sự vật, hiện tƣợng cùng có chung những đặc trƣng cơ bản nào đó” [156, tr. Còn từ điển mở Wiktionary thì nhấn mạnh “loại hình” là những “phần tử thuộc cùng một loại, trong đó các tính chất riêng đều bình thƣờng nhƣng các tính chất chung của loại thể hiện rõ nét và thu hút sự chú ý tới mức có thể dùng làm cơ sở cho việc nghiên cứu loại” [245]. Trên thế giới, tƣ duy loại hình có ngay từ thời cổ đại khi các học giả ngƣời Hy Lạp tiến hành phân loại và công nhận sự tồn tại của bốn ngành khoa học: số học, hình học, âm nhạc, thiên văn học. Tuy nhiên, khái niệm “loại hình” chỉ thực sự đƣợc sử dụng ở Đức vào thế kỷ XIX khi ở đây xuất hiện phong trào nghiên cứu ngôn ngữ học so sánh.
Vì mục đích của việc nghiên cứu là phân chia ngôn ngữ thành các nhánh, dòng, họ, loại hình nên khái niệm “loại hình” lần đầu tiên đƣợc sử dụng cho ngôn ngữ. Về sau khái niệm này mở rộng phạm vi sử dụng, nó xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực khoa học. Loại hình học vào Việt Nam khoảng những năm 1960 và đã đƣợc sử dụng trong nghiên cứu văn học. Đinh Gia Khánh vận dụng phƣơng pháp loại hình vào việc nghiên cứu kiểu truyện cổ tích Tấm Cám trong cuốn sách Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám (xuất bản năm 1968) nhƣng ông chƣa sử dụng khái niệm loại hình mà sử dụng khái niệm “kiểu” (thực chất cũng là loại hình).
Đến khoảng năm 1970, Trần Đình Hƣợu chính thức sử dụng khái niệm “loại hình” nhƣ một thuật ngữ khoa học để phân loại tác giả văn học trung đại thành ba nhóm: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử. Kế thừa thành quả nghiên cứu đó, Trần Ngọc Vƣơng đã đi sâu nghiên cứu loại hình tác giả nhà nho tài tử trong cuốn chuyên luận Loại hình học tác giả văn học- nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (1995). Gần đây, Lê Văn Tấn trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của Trần Đình Hƣợu, Trần Ngọc Vƣơng, tiếp tục đi sâu nghiên cứu loại hình nhà nho ẩn dật và trình bày trong cuốn Tác giả nhà nho ẩn dật và văn học trung đại Việt Nam (2013). Trong quá trình nghiên cứu, để làm rõ loại hình tác giả, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loại hình tác phẩm, các nhà nghiên cứu không thể không quan tâm đến đặc điểm loại hình của kiểu nhân vật trong sáng tác.
Bởi vậy, việc nghiên cứu nhân vật ở góc độ loại hình cũng đã bƣớc đầu đƣợc tiến hành, tuy nhiên vẫn chƣa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về loại hình nhân vật. “Nhân vật văn học” (tiếng Anh: character) là khái niệm đƣợc sử dụng để chỉ con ngƣời, sự vật, hiện tƣợng nổi bật đƣợc nhà văn xây dựng trong tác phẩm văn học. Nó không chỉ là “phƣơng tiện khái quát hiện thực” [125, tr. 284], “khái quát tính cách” [60, tr.
202] mà còn là đối tƣợng để “thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tƣởng thẩm mĩ của nhà văn về con ngƣời” [60, tr. Đối với ngƣời cầm bút, nhân vật là nơi giãi bày tâm tƣ tình cảm, là nơi trình bày nhận thức về con ngƣời, đời sống, thể hiện lí tƣởng thẩm mĩ. Đối với bạn đọc, nhân vật là tâm điểm để giải mã các vấn đề về con ngƣời và hiện thực, là cơ sở để đánh giá tài năng và đóng góp của mỗi nhà văn. Nhân vật vừa là trung tâm của hoạt động sáng tác, vừa là trung tâm của hoạt động tiếp nhận, vì thế, nó sớm nhận đƣợc sự quan tâm.
Ngay từ thời cổ đại, khi xuất hiện những công trình nghiên cứu văn học đầu tiên, nhân vật đã đi vào đời sống lí luận. Trong Nghệ thuật thi ca, Aristotle lần đầu tiên nói đến nhân vật kịch (Chƣơng XIII), đƣa ra nhận định về bốn điểm quan trọng hơn cả ở tính cách kịch là: “cao thƣợng, thích hợp, giống nhƣ thật và nhất quán” (Chƣơng XV) [3, tr. Việc Aristotle nhắc đến và phân tích nhân vật kịch trong mối liên hệ với sự mở nút của cốt truyện cho ta thấy ông đã ý thức đƣợc vai trò quan trọng của nhân vật trong tác phẩm. Cùng với sự phát triển của lí luận, nhân vật văn học ngày càng đƣợc quan tâm, hầu hết các công trình quan trọng của lí luận văn học Đông - Tây đều dành một phần cho việc nghiên cứu con ngƣời trong tác phẩm văn học.
Ở Việt Nam, nền lí luận văn học đƣợc hình thành đầu thế kỷ XX trên cơ sở học tập, tiếp thu thành tựu lí luận của phƣơng Tây. Việc nghiên cứu về con ngƣời trong văn học đã đƣợc thực hiện ngay từ đầu thế kỷ XX nhƣng mới chỉ dừng lại ở mức độ khiêm tốn trong các công trình nghiên cứu về tác giả tác phẩm. Số công trình nghiên cứu dài hơi và chuyên sâu về nhân vật chƣa nhiều, đáng chú ý nhất lúc này là cuốn Phương Tây - văn học và con người (1969) của Hoàng Trinh. Phải đến sau 1975 và đặc biệt là sau Đại hội Đảng VI (1986), việc nghiên cứu con ngƣời trong văn học 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới thu hút đƣợc sự quan tâm đặc biệt, nhiều công trình nghiên cứu xác định con ngƣời là đối tƣợng trung tâm ngay từ việc xác định tên của đề tài.
Ví dụ nhƣ: Nhân vật xấu xí và tài ba trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam (1996, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Huế, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội), Kiểu nhân vật trung tâm trong sáng tác của Hê- ming- uê (1998, Luận án tiến sĩ của Lê Huy Bắc, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội), Con người cá nhân và tính sáng tạo trong sáng tác văn chương Nguyễn Công Trứ (2003, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Viết Ngoạn, Trƣờng Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 (2000, chuyên luận của Phùng Ngọc Kiếm - Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội), Thế giới nhân vật kỳ ảo trong truyện cổ tích thần kỳ các dân tộc Việt Nam (2012, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Dung, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội), Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vƣơng, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân), Hệ thống nhân vật và thi pháp thể hiện chúng trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XV (2014, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Giang, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội), Nhân vật trong tác phẩm của Franz Kafka (2012, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thắng, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội), Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới (2012, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Tiến, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội), Con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (2013, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thúy Hằng, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội). Trong nghiên cứu văn học, chúng ta đã sử dụng tƣ duy loại hình vào việc phân loại nhân vật. Giáo trình Lí luận văn học của Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội và Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đều phân loại nhân vật văn học dựa trên tƣ duy loại hình. Căn cứ vào vị trí, vai trò nhân vật trong tác phẩm ta có nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm.
Căn cứ vào tƣ tƣởng và lí tƣởng xã hội của nhà văn có nhân vật chính diện (tích cực), nhân vật phản diện (tiêu cực). Căn cứ vào phƣơng thức biểu hiện có nhân vật trữ tình, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân vật tự sự và nhân vật kịch. Căn cứ vào quan niệm của thời đại về vai trò của nhân vật ta có: nhân vật chức năng, nhân vật tính cách, nhân vật tƣ tƣởng, nhân vật ngụ ngôn. Trong nghiên cứu nhân vật chúng ta còn thấy xuất hiện cách phân loại nhân vật căn cứ vào công việc, nghề nghiệp: công nhân, nông dân, ngƣời lính, trí thức, quan chức.
Có thể hiểu loại hình nhân vật là tập hợp tất cả các nhân vật có chung những đặc trƣng cơ bản nào đó đƣợc lặp đi lặp lại trong lịch sử văn học để phân biệt với kiểu nhân vật khác trong thế giới nhân vật. Việc phân loại nhân vật để xác định loại hình có thể dựa trên nhiều căn cứ nhƣ: nghề nghiệp, công việc, vị trí xã hội; đặc điểm tâm lí, tƣ tƣởng; vai trò, vị trí trong việc tổ chức tác phẩm; vai trò trong việc thể hiện lý tƣởng xã hội của nhà văn. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà ngƣời nghiên cứu lựa chọn các cách phân loại riêng. Tuy nhiên, việc phân loại cũng chỉ mang tính chất tƣơng đối.
Khái niệm trí thức Đầu thế kỷ XX, khái niệm “trí thức” mới xuất hiện nhƣng trong thực tế, ngƣời trí thức xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công lao động thành lao động chân tay và lao động trí óc. Trí thức không làm việc trong một nghề nhất định, họ là ngƣời lao động trí óc làm việc trong nhiều ngành nghề khác nhau, đƣợc gọi bằng các tên gọi khác nhau theo ngành nghề nhƣ: nhà thiên văn học, học giả, quân sƣ, nhà khoa học, nhà nho, kẻ sĩ, thầy thuốc, thầy giáo, nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, kỹ sƣ, luật sƣ., nhƣng ở thời đại nào, họ cũng là hình ảnh biểu trƣng cho đỉnh cao trí tuệ, lƣơng tri, cho khát vọng hƣớng tới chân lí.