Chương 1 là chương giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày sẽ tổng quan các nghiên cứu đã được thực hiện về các nhân tố có tác động đến lạm phát. Chương 3 trình bày cụ thể về phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu thu thập được sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4 trình bày kết quả của bài nghiên cứu và những thảo luận từ kết quả này.
Chương 5 đưa ra kết luận, một số gợi ý chính sách cũng như những hạn chế còn tồn tại của bài nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Các lý thuyết kinh tế nền tảng về các nhân tố tác động đến lạm phát Hiện nay, trên thế giới, có rất nhiều quan điểm, trường phái khác nhau nói về tác động của các nhân tố đến lạm phát.
Theo học thuyết về số lượng tiền tệ (I. Fisher, 1911), ông cho rằng tồn tại mối quan hệ giữa tổng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế với tổng chi tiêu để mua hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế đó. Điều này được thể hiện trong phương trình trao đổi của Fisher như sau: MV = PY (2.1) Với M là lượng cung tiền (đại diện cho chính sách tiền tệ); V là tốc độ chu chuyển tiền tệ; P là mức giá cả chung của nền kinh tế; Y là tổng số lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất của nền kinh tế trong năm đó. Trong một nền kinh tế, tốc độ chu chuyển tiền tệ V sẽ phụ thuộc vào phương thức thanh toán (tiền mặt, tiền tín dụng .) được sử dụng trong các giao dịch.
Trong thời gian ngắn, do thói quen thanh toán của một nền kinh tế thường thay đổi rất chậm nên Fisher đã giả định rằng V không thay đổi. Ngoài ra, Fisher cũng cho rằng trong điều kiện tiền lương và giá cả là hoàn toàn linh hoạt, tổng sản phẩm Y thường sẽ ở mức sản lượng tiềm năng và ít thay đổi trong ngắn hạn. Do đó, trong ngắn hạn, tỷ lệ tăng lên của lượng cung tiền (M) chính là tỷ lệ tăng lên của mức giá (P). Từ đó, có thể suy rộng ra rằng: Trong ngắn hạn, chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế gia tăng tương ứng.
Nói cách khác, trong ngắn hạn, các cú sốc thay đổi trong chính sách tiền tệ sẽ có tác động cùng chiều với lạm phát. Theo học thuyết kinh tế theo trường phái Keyness (J. Keynes, 1936) trong thời kỳ Đại suy thoái, ông đã đưa ra mô hình tổng cung (AS) và tổng cầu (AD) trong nền kinh tế để giải thích cho những biến động của lạm phát. Học thuyết cho rằng trong ngắn hạn, đường tổng cung AS sẽ có hệ số góc dương và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khi đó, những thay đổi trong tổng cầu AD sẽ làm cho tổng sản lượng và lạm phát thay đổi. Cụ thể, khi tổng cầu tăng lên, đường tổng cầu AD sẽ dịch chuyển sang phải, kéo theo sự gia tăng trong tổng sản lượng cũng như sự gia tăng của mức giá cả chung của nền kinh tế. Nếu tổng cầu tiếp tục gia tăng thì sản lượng và lạm phát sẽ tiếp tục tăng. Trong dài hạn, đường tổng cung AS sẽ là 1 đường thẳng đứng với hệ số góc là 900.
Khi đó, sự gia tăng trong tổng cầu AD sẽ chỉ làm cho mức giá cả trong nền kinh tế gia tăng. Từ đó, có thể thấy rằng, các cú sốc tổng cầu của nền kinh tế đều có tác động cùng chiều với lạm phát cả trong ngắn hạn và trong dài hạn. Học thuyết của trường phái trọng tiền, tiêu biểu là học thuyết số lượng tiền tệ (M. Friedman, 1956) đã đưa ra giải thích về nguyên nhân gây ra lạm phát thông qua phương trình Cambrige như sau: MS = k P Y Với MS là lượng cung tiền, P là chỉ số giá cả của nền kinh tế, Y là tổng sản phẩm trong nền kinh tế và k là hằng số.
Vế bên phải phương trình chính là cầu tiền trong nền kinh tế. Khi đó, cân bằng tiền tệ diễn ra khi lượng cung tiền MS bằng lượng cầu tiền MD. Theo Friedman, trong nền kinh tế, cung tiền sẽ là biến ngoại sinh và được quyết định bởi các chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Mặt khác, trong học thuyết này, sản lượng Y cũng được giả định là không đổi và nhu cầu về tiền của nền kinh tế sẽ được giả định là một tỷ lệ cố định theo Y.
Vì thế, khi cung tiền gia tăng sẽ làm cho mức giá cả trong nền kinh tế gia tăng. Có thể thấy rằng, học thuyết này đã đề cao vai trò của Ngân hàng Trung ương với chức năng kiểm soát mức cung tiền trong nền kinh tế nhằm mục tiêu trực tiếp kiểm soát lạm phát. Nói rộng ra, Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện các chính sách tiền tệ để mục tiêu kiểm soát làm phát hay nói cách khác, các cú sốc cung tiền sẽ có nhiều tác động đến tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế. Theo lý thuyết tăng trưởng của trường phái Keynes mới, các nhà kinh tế học thuộc trường phái này đã đưa ra khái niệm về mức sản lượng tiềm năng, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 trạng thái toàn dụng lao động, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên trong giải thích của mình.
Cụ thể, những nhà kinh tế học thuộc trường phái này đã giải thích lạm phát theo cơ chế “lạm phát nội tại”, tức là lạm phát xảy ra do tác động của các biến số nội sinh trong nền kinh tế. Các nhà kinh tế học đã đưa ra những giải thích như sau: Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, (1) nếu các chính sách kinh tế làm cho sản lượng thực tế trong nền kinh tế cao hơn mức sản lượng tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên thì điều này sẽ làm cho lạm phát gia tăng do những nhà sản xuất trong nền kinh tế sẽ tăng giá bán sản phẩm mình; (2) nếu các chính sách kinh tế làm cho mức sản lượng thực tế trong nền kinh tế giảm xuống dưới mức tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên thì điều này sẽ làm giảm lạm phát do những nhà sản xuất trong nền kinh tế (luôn cố gắng sản xuất ở mức tiềm năng của nền kinh tế) sẽ giảm giá bán bán sản phẩm, kéo theo lạm phát giảm; (3) nếu chính sách kinh tế giữ cho mức sản lượng thực tế đúng bằng mức sản lượng tiềm năng, tỷ lệ thất nghiệp bằng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, trong điều kiện nền kinh tế không phải chịu các cú sốc bên cung, thì tỷ lệ lạm phát sẽ không thay đổi. Từ những lý thuyết nền tảng trong các thời kỳ khác nhau, có thể thấy rằng, trong số các nguyên nhân gây ra lạm phát, có 4 nguyên nhân chính như sau: Tác động của giá cả hàng hóa thế giới (nhập khẩu lạm phát); chênh lệch giữa sản lượng thực tế và mức sản lượng tiềm năng; ảnh hưởng của các cú sốc chính sách tiền tệ; và ảnh hưởng của các cú sốc tài khóa. Do đó, từ những lý thuyết nền tảng trên, bài nghiên cứu sẽ tiếp tục xem xét sự ảnh hưởng của 4 nhân tố trên thông qua các nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành.
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về tác động của các nhân tố gây ra lạm phát 2. Tác động của giá cả hàng hóa thế giới đến lạm phát Theo nghiên cứu của S. Moessner (2008), với dữ liệu nghiên cứu chuỗi thời gian theo tháng trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2003 đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tháng 8 năm 2008 của 19 quốc gia (lấy từ nguồn Datastream và tính toán của BIS) và bằng phương pháp hồi quy OLS trên các chuỗi dữ liệu bảng, các tác giả đã thấy rằng giá cả hàng hóa tăng mạnh trong thời gian mẫu khảo sát cho đến giữa năm 2008. Trong đó, giá lương thực và giá năng lượng có tác động đáng kể đến mức độ và biến động của lạm phát ở những nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế đang phát triển.
Ngoài ra, trong giai đoạn những năm gần khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá lương thực có nhiều tác động đến lạm phát hơn so với giá năng lượng. Ustyugova (2012), với mẫu dữ liệu chuỗi thời gian của 31 quốc gia và 61 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn từ năm 2001 – 2010, bằng phương pháp hồi quy OLS gộp (Pooled OLS) và mô hình hiệu ứng các nhân tố cố định (Fixed Effective Model) dựa theo những tính toán trong mô hình lý thuyết đường cong Phillips, các tác giả đã thấy rằng có những tác động đáng kể từ các cú sốc giá cả nước ngoài đến lạm phát trong nước ở một số lượng lớn các quốc gia. Cụ thể: - Các quốc gia với những đặc điểm ổn định thường dễ bị tác động hơn sau khi đã trải qua tác động lạm phát kéo dài của các cú sốc lạm phát hàng hóa. Đây thường là các quốc gia có tỷ trọng về thực phẩm cao trong rổ chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI) hoặc khá nhạy cảm đối với giá dầu trong nền kinh tế.
Đặc biệt, trong cú sốc năm 2008, các nhà nhập khẩu nhiên liệu ròng đã đối mặt với một mức độ lạm phát thấp hơn dưới tác động của các điều khoản thương mại. - Các quốc gia có thể chủ động đưa ra một số biện pháp để hạn chế tác động dẫn truyền của giá cả hàng hóa thế giới đến lạm phát trong nước nếu có cơ chế quản lý tốt hơn, sự độc lập cao hơn của ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, các tác giả đã phát hiện thấy sự tự tin của các định chế tài chính mới là nguyên nhân quan trọng hơn để hạn chế tác động của giá cả hàng hóa thế giới đến lạm phát trong nước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao, các cú sốc giá cả hàng hóa sẽ có một tỷ lệ truyền dẫn cao và dai dẳng đến lạm phát trong nước.
Theo bài nghiên cứu của K. Tan (2013), với chuỗi dữ liệu thời gian theo tháng từ năm 1992 đến năm 2012 của Malaysia, thông qua phương pháp hồi quy OLS, các tác giả đã tập trung vào việc xem xét tác động của giá cả hàng hóa thế giới đến lạm phát của Malaysia. Các tác giả đã đi đến kết luận rằng giá cả hàng hóa toàn cầu chưa có ảnh hưởng liên tục và kéo dài đến lạm phát của Malaysia. Điều này một phần đến từ co chế điều hành giá cả của Chính phủ Malaysia.