Chương 1: CƠ SỞ THỰC TIẾN VÀ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 - Cơ sở thực tiễn của đề tài Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu với trên 80% dân cư sống ở nông thôn, phát triển nông nghiệp, nông thôn vẫn là một mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, Đảng đã chủ trương chính sánh di dân. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, V nêu lên mục tiêu phân bố lại lao động và dân cư như sau: “Phân bố hợp lý nguồn lao động với đất đai, di chuyển một bộ phận lao động dân cư từ các nơi đông dân, dôi thừa lao động đến các vùng thưa dân còn hoang hóa, mở rộng diện tích đất canh tác tạo ra các vùng chuyên canh nhằm phát triển toàn diện, cân đối và ổn định, sản xuất thêm nhiều hàng hoá có giá trị xuất khẩu”. Nghị quyết Trung ương 4 (khoá V) chỉ rõ: “Trong cả nước cần có quy hoạch kế hoạch, chính sách cụ thể tích cực phân bố lại lao động khai thác có hiệu quả 10 triệu ha đất nông nghiệp và 15 triệu ha rừng, đó là vấn đề chiến lược số một”.
Để thực hiện các Nghị quyết của Đảng, một loạt các quyết sách lớn ra đời, có thể kể đến những chính sách phân bố lại lao động dân cư như Quyết định 192/CP ngày 25-5-1974, Quyết định 272/CP ngày 3-10-1977, Quyết định 95/CP ngày 27/3/1980, Nghị quyết 82/CP ngày 12/3/1980. Đây là những chủ trương tác động đến di chuyển dân cư ở nông thôn của Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn thực hiện công cuộc xây dựng phát triển đất nước sau khi thống nhất đất nước. Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” [73, tr. 12], Đại hội Đảng VI đã ra chủ trương về dân cư: “Đẩy mạnh công tác định canh, định cư ở miền núi gắn liền với việc quy hoạch, xây dựng kinh tế trên 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com địa bàn huyện.
Bổ sung chính sách đối với việc xây dựng các vùng kinh tế mới và công tác định canh, định cư, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, tạo điều kiện cho người mới đến ổn định sản xuất và đời sống”. “Đẩy mạnh công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và đời sống của đồng bào trước hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ của cách mạng và kháng chiến” [73, tr. Đại hội VI đã quyết định đường lối Đổi mới. Đại hội Đảng lần thứ VII đã xác định: “Phương hướng quan trọng nhất để giải quyết việc làm là thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, coi trọng cả phát triển sản xuất, và dịch vụ.
Kết hợp giữa giải quyết việc làm tại chỗ với phân bố lại lao động theo vùng lãnh thổ, xây dựng các khu kinh tế mới, hình thành các cụm kinh tế-kỹ thuật-dịch vụ nhỏ ở nông thôn, ở các thị trấn, thị tứ, đồng thời mở rộng xuất khẩu lao động”. Xác định việc phân bố lại dân cư là một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch 5 năm 1991- 1995. Đại hội đại biểu đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) nêu rõ: “Tập trung sức tạo việc làm. Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh - quốc phòng.
Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Giảm đáng kể tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm nông thôn”. Vấn đề di cư dao động mở rộng sang tầm mới vượt biên giới quốc gia. Đại hội Đảng IX tiếp tục đường lối Đổi mới.
Để nông thôn phát triển cần phải “tăng cường chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn” [76, tr. Trong “Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010” đã chỉ rõ: “Đối với khu vực nông thôn, trung du, miền núi: Hoàn thành và ổn định vững chắc định canh định cư. Bố trí 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lại dân cư, lao động và đất đai theo quy hoạch đi đôi với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên, phát triển kinh tế trang trại. 180]; “Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng có tiềm năng”.
Toàn bộ những tư tưởng trên của Đại hội Đảng lần thứ IX, đã định hướng cho nghiên cứu về kinh tế – văn hóa – xã hội nông thôn trong những năm đầu thế kỷ XXI, trong đó có vấn đề về dân số, lao động, việc làm. Đại hội lần thứ X tiếp tục định hướng trên. Để thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng một loạt các Quyết định của nhà nước Việt Nam về di chuyển dân cư được ban hành trong thời kỳ đầu Đổi mới: Quyết định số 240 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ngày 3/8/1991; Chỉ thị số 660-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17-10-1995 về việc giải quyết tình trạng di cư tự do đến Tây Nguyên và một số tỉnh khác, Quyết định của Chính phủ số 656/TTg ngày 13/9/1996, v. Để giải quyết vấn đề dân cư di chuyển tự do, Quốc Hội đã đặt thành một chủ trương lớn trong Nghị quyết của Quốc hội số 22/1999/QH10 ngày 12 tháng 6 năm 1999 chỉ rõ: “tập trung giải quyết có hiệu quả vấn đề di dân tự do : 1- Các cơ quan hữu quan ở Trung ương nghiên cứu chính sách và kịp thời ban hành các văn bản pháp luật để tăng cường quản lý và có biện pháp cụ thể hỗ trợ các địa phương.
2- Địa phương nơi có dân đi cần tạo điều kiện để nhân dân an tâm sản xuất, ở lại xây dựng quê hương, hạn chế thấp nhất di cư tự do ; có trách nhiệm phối hợp với địa phương nơi có dân đến. 3- Địa phương nơi có dân đến có biện pháp giúp dân di cư sớm ổn định đời sống và sản xuất, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội” [138]. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những chủ trương, chính sách đó đã được thể chế hoá bằng các văn bản pháp luật. Trong Pháp lệnh Dân số (điều 16, khoản 2) đã nhấn mạnh đến “hạn chế động lực di dân ra đô thị” (điều 17) [ 163].
Bước vào thiên nhiên kỷ thứ ba. Chính phủ Việt Nam ra một loạt văn bản đường lối về quy hoạch dân cư như Quyết định số 190/2003/QĐ-CP về chính sách di dân, thực hiện quy hoạch bố trí dân cư giai đoạn 2003 – 2010, ngày 16-9- 2003; Quyết định số 50/2005/QĐ-TTg; Quyết định số 72/2005/QĐ-TTg và Quyết định số 29/2008/NĐ-CP, v. Quyết định số 190/2003/QĐ-CP, ngày 16- 9-2003 là một chủ trương ổn định tình hình di chuyển cư dân trong quá trình đổi mới để hỗ trợ những người di cư. Các quyết sách trong vấn đề chuyển cư đã cho thấy Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến động thái dân số này.
Các chính sách ấy ảnh hưởng đến các dòng di chuyển dân cư trong thực tế xã hội nước ta. Những chính sách về quản lý hiện tượng di, dịch chuyển cư dân của Đảng và nhà nước cung cấp định hướng cho nghiên cứu di cư. Trong quá trình sống có những cá nhân luôn di chuyển, có một bộ phận dân cư luôn thay đổi nơi sinh sống, cư trú, lao động của mình. Sự di chuyển của những cá nhân, hay nhóm xã hội này không chỉ tạo ra mặt “động xã hội” của quá trình dân số mà nó cũng đem lại những hậu quả kinh tế-xã hội nhất định, có những hậu quả đôi khi khó lường trước được.
Mặt động này khác với sự vận động, biến đổi dân số theo quy luật tự nhiên (sinh, tử). Sự di chuyển dân cư luôn là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử và là một hiện tượng nảy sinh mang tính phổ biến trong mọi xã hội. Mỗi dân tộc, trong tiến trình lịch sử đều gắn liền với quá trình di dân được xác định. Điều đó đúng với mọi quốc gia mọi dân tộc.
Di chuyển dân cư đã từng tồn tại suốt nhiều thế kỷ 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và luôn gắn liền với một hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định. Từ xa xưa, trong mỗi giai đoạn lịch sử, quá trình này diễn ra với những đặc điểm riêng của nó, chẳng hạn như trong lịch sử sự di chuyển dân cư luôn gắn liền với sự mở mang bờ cõi, đất đai., và hệ quả là sự di chuyển cư dân đã tạo nên nét đặc thù riêng cho mỗi xã hội cụ thể. Lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam cũng cũng chứng tỏ điều đó, nhất là đối với tộc người Việt trong vòng hơn mười thế kỷ gần đây [93]. Trong xã hội Việt Nam hiện đại chuyển cư luôn là một quá trình xã hội tất yếu.
Trước hết, "trong nhiều năm qua Nhà nước ta đã chủ động tổ chức di dân góp phần đây nhanh quá trình khôi phục và phát triển kinh tế. Hình thức di dân có tổ chức được thực hiện từ những năm 1960. Loại hình di dân thứ hai - di cư tự do, đây là dòng di cư không chịu sự kiểm soát của nhà nước và luồng di cư này có xu hướng ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh hội nhập vào khu vực và quốc tế, nền kinh tế phát triển, cùng sự hoàn thiện môi trường pháp luật, cơ chế thị trường được định hình, v.
đã và đang tạo ra cơ hội mới cho người dân nông thôn có cơ hội tìm nơi sống và hoạt động mới. Điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội đang từng ngày biến đổi đang tác động đến nhận thức và hành động của người dân nông thôn khi quyết định tìm phương thức làm ăn, sinh sống cho phù hợp với khả năng của mình. Thực tiễn di, dịch cư đang sôi động đòi hỏi sự nghiên cứu mới về hiện tượng xã hội này. Di, dịch chuyển dân cư là một quá trình xã hội, một hiện xã hội mang tính lịch sử-cụ thể và là một quá trình mang tính quy luật phổ biến trong đời sống của mọi xã hội.
Và đó là cơ sở thực tiễn cho nghiên cứu cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu này. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 – Cơ sở lý luận của đề tài 1.1 – Cách tiếp cận mác-xít đối với nghiên cứu chuyển cư Để nghiên cứu quá trình chuyển cư cần vận dụng những nguyên lý mà C.