MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong những năm gần đây, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa tài chính đã thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) phát triển mạnh mẽ. Đến nay, có thể nói TTKDTM đã và đang trở thành phương tiện thanh toán phổ biến và được nhiều quốc gia khuyến khích sử dụng, đặc biệt là đối với các giao dịch thương mại, các giao dịch có giá trị và khối lượng lớn (Đỗ Thị Lan Phương, 2014). Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, các phương tiện TTKDTM trong nền kinh tế nói chung và trong khu vực công nói riêng có xu hướng phát triển và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thay thế tiền mặt. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ sử dụng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán đang có xu hướng giảm dần từ 20,3% năm 2004, xuống 14% năm 2010 và còn khoảng 12% vào năm 2014.
Có hơn 65% đơn vị thực hiện chi trả lương qua tài khoản cho đến năm 2013 (Đỗ Thị Lan Phương, 2014). Khi thanh toán không dùng tiền mặt được khuyến khích và đưa vào như một phương thức thanh toán chính yếu trong xã hội sẽ đem lại nhiều lợi ích để thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững. Nó sẽ tạo sự minh bạch trong các khoản chi tiêu và giao dịch của Chính phủ, các đơn vị kinh doanh và cá nhân, giúp dòng chảy tiền tệ được lưu thông rõ ràng và trơn tru hơn. Cũng như ngân hàng, Kho bạc Nhà nước (KBNN) là một thành viên tham gia vào hệ thống thanh toán của nền kinh tế và cung ứng cho các đơn vị, cá nhân các dịch vụ về thanh toán.
TTKDTM qua KBNN có tác dụng rất lớn đối với nền kinh tế nói chung và đối với quản lý Ngân sách Nhà nước (NSNN) nói riêng. Nó giúp cho việc tập trung nhanh chóng, kịp thời các khoản thu của Nhà nước vào NSNN và chi NSNN kịp thời, trực tiếp tới các đơn vị thụ hưởng ngân sách, hạn chế các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, tiết kiệm chi phí, thúc đẩy sự vận động của hàng hóa, lành mạnh quá trình lưu thông tiền tệ, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Nhận thức được vấn đề này, những năm qua Chính phủ, Bộ Tài chính và KBNN đã triển khai hàng loạt các chủ trương, cơ chế, chính sách để tăng cường việc TTKDTM qua hệ thống KBNN như: Nghị quyết số 04NQ/TW ngày 21/8/2006 của Hội nghị Trung ương 3 khoá X đã chỉ rõ “Tiếp tục thí điểm và tiến tới thực hiện cơ chế trả lương và các khoản thu nhập khác của cán bộ, công chức qua tài khoản mở tại ngân hàng, kho bạc, trước hết ở những nơi có điều kiện”. Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg ngày 29/12/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020.
Trong đó, cũng đề cập đến việc phải phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở khu vực công, đặc biệt là việc chi trả lương cho cán bộ công chức và sử dụng thẻ thương mại trong khu vực công. Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí; Luật phòng chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ 1/6/2006) và các văn bản hướng dẫn đều đã đòi hỏi phải tăng cường kiểm soát chặt chẽ việc quản lý thu, chi tiền mặt và thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt nhằm tiết kiệm các chi phí thanh toán và kiểm soát chặt chẽ thu nhập của cán bộ công chức, góp phần phòng chống tham nhũng. Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, trong đó quy định rõ về đối tượng áp dụng, phạm vi triển khai và lộ trình thực hiện. Ngày 27/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2453/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015, trong đó đã giao cho Bộ Tài Chính triển khai nhiều nội dung để thực hiện như: tăng cường TTKDTM trong thu – chi NSNN, xây dựng chính sách thuế hỗ trợ TTKDTM, quản lý các giao dịch chứng khoán không dùng tiền mặt.; Bên cạnh đó, Chiến lược phát triển ngành Tài chính và Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 đều đưa ra mục tiêu tăng cường TTKDTM qua KBNN, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản KBNN không thực hiện giao dịch bằng tiền mặt.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Trong thực tế những năm qua, hoạt động TTKDTM phục vụ cho việc thu, chi NSNN qua hệ thống KBNN đã được chú trọng triển khai và đã có những chuyển biến tích cực thông qua các giải pháp cơ bản như thanh toán song phương điện tử và uỷ nhiệm thu qua 04 hệ thống NHTM tại 699/702 KBNN huyện (Kho bạc Nhà nước, 2014); tăng cường quản lý thu – chi NSNN bằng tiền mặt qua KBNN; thực hiện chi trả cá nhân cho trên 70% trong tổng số đơn vị sử dụng NSNN qua tài khoản, có trên 70% tổng số cán bộ trong các đơn vị sử dụng NSNN đã chi trả lương qua tài khoản thẻ (Kho bạc Nhà nước, 2015). qua đó, góp phần tăng dần tỷ lệ TTKDTM trong khu vực công, giảm dần tỷ trọng thanh toán bằng tiền mặt qua KBNN. Cụ thể, năm 2009, tỷ lệ thu NSNN bằng tiền mặt/tổng thu NSNN là 14%, tỷ lệ chi NSNN bằng tiền mặt/tổng chi NSNN là 22%, so với mức 17% và 23% tương ứng của năm 2008; giảm tỷ lệ thu, chi bằng tiền mặt trong tổng doanh số thanh toán qua hệ thống KBNN từ 9,8% vào năm 2005 xuống còn khoảng 8% vào năm 2010 và còn 6% vào năm 2012 (Dương Hồng Phương, 2011).Tuy nhiên, tỷ trọng thu – chi tiền mặt so với tổng doanh số thu - chi của KBNN vẫn còn cao, tiền mặt bị phân tán nhiều ở các quỹ của các đơn vị sử dụng NSNN, dễ dẫn đến việc sử dụng NSNN sai nguyên tắc tài chính; thu NSNN bằng tiền mặt trực tiếp tại KBNN còn nhiều sẽ dễ dẫn đến việc quản lý số thu lỏng lẻo, chiếm dụng số thu, thất thu, … làm cho việc quản lý quỹ NSNN kém hiệu quả. KBNN Bến Tre là một tổ chức trực thuộc Kho bạc Nhà nước.
Chức năng , nhiệm vụ chính của KBNN Bến Tre là t ập trung các khoản thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, hạch toán các khoản thu cho các cấp ngân sách; tổ chức thực hiện kiểm soát thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Từ năm 2011, KBNN Bến Tre đã thực hiện ủy nhiệm thu NSNN cho các ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn. Do đó , nhiệm vụ quan trọng còn lại của KBNN Bến T re là kiểm soát , thanh toán các khoản chi NSNN theo đúng quy định của pháp luật.
Qua số liệu báo cáo tổng kết hoạt động của KBNN Bến Tre cho thấy số lượng thanh toán bằng hình thức tiền mặt vẫn còn chiếm tỷ lệ cao và đang có xu hướng tăng. Cụ thể, số chi NSNN bằng tiền mặt trong năm 2012 là 2.832 tỷ đồng đã tăng lên 3.652 tỷ đồng trong năm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điều này làm cho ti ền mặt bị phân tán nhiều ở các quỹ của các đơn vị sử dụng NSNN, dễ dẫn đến việc mất an toàn , sử dụng NSNN sai nguyên tắc tài chính; Kho bạc phải tốn nhiều chi phí khi thanh toán (chi phí trong vận chuyển , kiểm đếm và bảo quản tiền mặt ),…làm cho việc quản lý và sử dụng qu ỹ NSNN thiếu minh bạch, kém hiệu quả. Để cho việc thanh toán không dùng tiền mặt đạt kết quả như mong đợi, điều cần thiết là phải xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt để có những giải pháp phù hợp.
Đó là lý do tác giả chọn và thực hiện đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến thanh toán không dùng tiền mặt qua KBNN Bến Tre”.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua KBNN Bến Tre. Qua đó khuyến nghị các giải pháp cần thiết để tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt qua KBNN Bến Tre trong thời gian tới. Cụ thể, nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi sau: 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua KBNN Bến Tre? 2:Việc thực hiện TTKDTM của đơn vị sử dụng NSNN (Kế toán trưởng của đơn vị) có ảnh hưởng bởi các đặc trưng cá nhân (giới tính, độ tuổi, trình độ, địa bàn công tác) không? 3: Các giải pháp cần thiết nào để tăng cường TTKDTM qua KBNN Bến Tre? 1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu Luận văn này tập trung nghiên cứucác nhân tố ảnh hưởng đến thanh toán không dùng tiền mặt qua KBNN Bến Tre. Trong đó đối tượng khảo sát là các tổ chức, cá nhân trên địa bàn Tỉnh (Thành phố Bến Tre và 08 huyện) có giao dịch với KBNN Bến Tre.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Giới hạn thời gian nghiên cứu Luận văn sử dụng kết quả thực hiện khảo sát mẫu các tổ chức, cá nhân trên địa bàn Bến Tre có giao dịch với KBNN Bến Tre. Thời gian tiến hành khảo sát từ tháng 8/2015 đến tháng 9/2015.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu được thực hiện qua các giai đoạn: Nghiên cứu sơ bộ dùng phương pháp định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận, phỏng vấn cán bộ, chuyên gia Kho bạc để hiệu chỉnh và xây dựng các thang đo phù hợp, từ đó thiết kế bảng câu hỏi phục vụ cho việc thu thập dữ liệu. Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng, thực hiện bằng cách gửi bảng câu hỏi khảo sátchođối tượng được khảo sát (Kế toán trưởng của đơn vị sử dụng NSNN) để trực tiếp trả lời các câu hỏi ghi trong phiếu khảo sát, sau đó sẽ thu lại bảng câu hỏi và tiến hành phân tích. Việc điều tra được thực hiện khắp các huyện và thành phố trong tỉnh Bến Tre thông qua phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, tác giả chọn ngẫu nhiên theo từng địa bàn 315 đơn vị sử dụng NSNN để tiến hành khảo sát.
Sau đó ứng dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá các số liệu đã được xử lý với sự hỗ trợ của phần mền SPSS 16.