chương 1 Trong bối cảnh kinh tế huyện nhà ngày càng phát triển, dựa trên định hướng phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới sẽ hình thành nhiều cụm công nghiệp, với nhiều loại hình hoạt động, đa ngành nghề. Việc thu hút, kêu gọi đầu tư rất cần được các ngành, các cấp quan tâm. Do đó nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của các Doanh nghiệp thuộc Cụm công nghiệp là cần thiết. Rút ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng hiệu quả sử dụng vốn, tùy điều kiện của mình như thế nào mà nhà đầu tư mạnh dạn bỏ vốn kinh doanh.
Còn đối với Nhà nước có những chính sách phù hợp thu hút đầu tư, đồng thời giúp cho công tác quản lý đạt hiệu quả hơn trong thời gian tới. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Một số định nghĩa, khái niệm, đặc điểm 2.
Cụm công nghiệp Cụm Công nghiệp là khu vực tập trung sản xuất kinh doanh và dịch vụ phục vụ công nghiệp của các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Theo đó, CCN có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, tạo lập một khu sản xuất tập trung tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ còn tồn tại trong khu dân cư mà khả năng ảnh hưởng đến cuộc sống dân cư và gây ô nhiễm môi trường; Thứ hai, CCN được hình thành là cơ sở giải quyết vấn đề căng thẳng của nhiều cơ sở sản xuất, doanh nghiệp vừa và nhỏ đang thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh; Thứ ba, CCN do UBND cấp tỉnh/thành phố quyết định thành lập. Về đầu tư phát triển CCN do các Doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực và kinh nghiệm xây dựng và quản lý CCN làm chủ đầu tư; Thứ tư, việc cho thuê đất CCN được ưu tiên cho tất cả các cơ sở, doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, đang cần mặt bằng sản xuất kinh doanh nhưng không đủ tiềm lực hoạt động trong các KCN tập trung; Thứ năm, CCN tồn tại nhiều mô hình quản lý như: Sở Công thương các tỉnh/thành phố; UBND các huyện/thành phố; BQL CCN thực hiện quản lý CCN; Trung tâm phát triển CCN; công ty khai thác hạ tầng CCN. Doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Mỗi một DN đều tồn tại và hoạt động dưới một hình thức pháp lý nhất định về tổ chức DN. Xét về hình thức pháp lý có các loại hình DN chủ yếu sau: - DN tư nhân: Là DN do 0 1 cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN. - Công ty hợp danh: Là DN trong đó Phải có ít nhất 02 thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp, phải chịu trách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty.
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. - Công ty TNHH một thành viên: Là DN do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. - Công ty TNHH có 02 thành viên trở lên: Là DN mà các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác của DN trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào DN.
Mặt khác, phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không được vượt quá 50 (năm mươi) người. - Công ty cổ phần: Là loại hình DN góp vốn, trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Mặt khác, các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp có quy định của pháp luật. Việc phân loại như trên giúp cho chủ sở hữu DN, những nhà đầu tư có quyết định phù hợp với mục tiêu của mình đối với từng loại hình DN, mặt khác giúp cho Nhà nước có cơ chế chính sách phù hợp để tạo điều kiện khuyến khích phát triển đa dạng hóa các loại hình DN trong nền kinh tế thị trường. Vốn Hoạt động sản xuất kinh doanh của DN là một quá trình gồm các khâu liên tục, từ việc chuẩn bị các yếu tố đầu vào, tiến hành sản xuất đến các yếu tố đầu ra cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho thị trường. Chúng ta đều biết rằng vốn là yếu tố cơ bản không thể thiếu của mọi quá trình sản xuất kinh doanh và đồng thời nó cũng là điều kiện, là phương tiện để DN tồn tại và phát triển.
Vậy, vốn là gì?. Cho đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn. Theo quan điểm của Mác: “Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Định nghĩa này mang một tầm khái quát lớn, tuy nhiên, do bị hạn chế bởi điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.Samuelson - một nhà kinh tế học của trường phái tân cổ điển, ông cho rằng: các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất được chia thành ba bộ phận gồm đất đai, lao động và vốn.
Trong đó, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra và được sử dụng hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó. Theo David Begg, trong cuốn “Kinh tế học”: Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính. Trong đó, vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa khác; vốn tài chính là tiền và tài sản trên giấy của DN. Như vậy, nhìn chung cả Samuelson và David Begg đều có chung một thống nhất cơ bản vốn là các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình SXKD.
Các nhà nghiên cứu nước ta gần đây cũng đã có những quan điểm mới về vốn: “vốn hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm lực về tài chính của mỗi cá nhân, mỗi DN và mỗi quốc gia, còn hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực, chất xám, tiền bạc đã tích lũy của mỗi cá nhân, một DN hay một quốc gia". Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), các DN đều phải có các yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Để có được các yếu tố đó các DN phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định, phù hợp với qui mô và điều kiện kinh doanh của DN. Số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm, hình thành tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD của DN được gọi là vốn kinh doanh của DN.
Có thể nói vốn kinh doanh của DN là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD của DN. Nói cách khác, đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà DN đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích thu lợi nhuận. Như vậy, vốn là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố đầu vào (nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư hàng hóa, nguồn nhân lực, tiền bạc, uy tín của DN trên thị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 trường.) được huy động và sử dụng cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN nhằm mục đích sinh lời. Vốn cố định Vốn cố định (VCĐ): Là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ trong DN Vốn cố định của DN chính là số tiền ứng trước để mua sắm, xây dựng các TSCĐ.
Có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của VCĐ trong quá trình SXKD như sau: - VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển. - Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ chu chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi từng phần giá trị sau mỗi chu kỳ kinh doanh. - Sau nhiều chu kỳ SXKD thì VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Vốn lưu động Vốn lưu động (VLĐ): Vốn lưu động của DN là một bộ phận của Vốn kinh doanh được ứng ra để hình thành nên TSLĐ của DN nhằm đảm bảo cho quá trình SXKD được tiến hành thường xuyên liên tục.
VLĐ được biểu hiện chủ yếu là vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn, phải thu của khách hàng, vật tư hàng hóa và TSLĐ khác. VLĐ có những đặc trưng sau: - VLĐ tham gia vào một chu kỳ kinh doanh, luôn thay đổi hình thái biểu hiện. - Trong quá trình SXKD, VLĐ chuyển dịch toàn bộ giá trị một lần vào giá trị sản xuất mới. - VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn khi DN tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền bán hàng.
Hiệu quả sử dụng vốn Hiệu quả sử dụng vốn là sự so sánh giữa chí phí sử dụng vốn và những lợi ích mà đồng vốn đó mang lại cho doanh nghiệp. Thông qua sự so sánh như vậy có thể thấy được, ta sẽ đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó là cao hay thấp, tốt hay xấu… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của các DN là thu được lợi nhuận cao. Quá trình kinh doanh của DN cũng là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh.
Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện ở số lợi nhuận DN thu được trong kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn kinh doanh. Xét trên góc độ sử dụng vốn, lợi nhuận thể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp tổ chức đảm bảo vốn và sử dụng vốn cố định, vốn lưu động của DN.