CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, THỰC TRẠNG NGÀNH NGHỀ VÀ CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Sơ lược và Thị trường chứng khoán 1.1 Khái niệm và chức năng của TTCK a) Khái niệm Theo TS. Nguyễn Đình Thọ (2008), TTCK được hiểu đơn giản là nơi tập hợp và phát hành sự trao đổi, mua bán cổ phiếu (hay chứng khoán). Các giao dịch này thường được thực hiện thông qua Sở giao dịch chứng khoán hoặc công ty chứng khoán – một hình thức khá phổ biến đối với nhà đầu tư hiện nay.
TTCK được chia thành 2 loại: - Thị trường sơ cấp là nơi cố phiếu được phát hành lần đầu từ chính công ty. Phần lớn những cá thể giao dịch trên thị trường này là những tổ chức, doanh nghiệp to hoặc các quỹ đầu tư. - Thị trường thứ cấp là nơi cổ phiếu được giao dịch sau khi phát hành sơ cấp, là sự trao tay giữa các nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường, chính vì thế mà việc giao dịch trên thị trường này không sinh ra dòng tiền mới mà chỉ là thay đổi quyền sở hữu cổ phiếu giữa các cá thể mua và bán. b) Chức năng của TTCK TTCK là một thành phần không thể thiếu trong nền kinh tế, gồm 5 chức năng chính: - Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, bởi khi nhà đầu tư mua cổ phiếu từ các doanh nghiệp phát hành chứng khoán, số tiền đó sẽ được coi là nguồn vốn và góp phần hỗ trợ các hoạt động kinh doanh, đầu tư của công ty.
5 - Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng. TTCK cho phép người dân đầu tư lành mạnh, tự do chọn lựa các mã cổ phiếu hoặc các loại chứng khoán khác phù hợp với mức độ quản trị rủi ro, phong cách và mục tiêu đầu tư. - Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán. Khi đầu tư, người dân hoàn toàn có thể chuyển đổi chứng khoán họ đang nắm giữ thành tài sản, tiền mặt hay thậm chí là các loại chứng khoán khác tùy nhu cầu.
Điều đó cho thấy tính linh hoạt, an toàn của thị trường này mà các kênh đầu tư khác như đầu tư bất động sản không có. - Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. Giá chứng khoán và các chỉ số như EPS, P/E, BCTC ra mỗi kỳ kế toán giúp nhà đầu tư có thể đánh giá một cách tổng hợp và khách quan về hoạt động của doanh nghiệp, cũng như thuận lợi cho việc so sánh giữa các doanh nghiệp cùng ngành. - Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Chính phủ có thể theo dõi hành động của dòng tiền và giá cổ phiếu để kịp thời hành động, định hướng đầu tư bảo đảm sự an toàn, phát triển cân đối của nền kinh tế.2 Sơ lược về TTCK Việt Nam a) Sự ra đời TTCK Việt Nam Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng Nghị định số 48/CP của Chính phủ, được kí kết vào ngày 11-7-1998. Khi đó, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, đặt trụ sở tại thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh cũng được thành lập. Ngày 28-7-2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM chính thức đi vào hoạt động với 2 mã cổ phiếu giao dịch đầu tiên là REE và SAM. Quan hơn 2 thập kỷ hoạt động, thị trường ngày càng thu hút được sự quan tâm và đầu tư của các tổ chức, doanh nghiệp và nhà đầu tư nhỏ lẻ.
Thị 6 trường chứng khoán Việt Nam đã và đang phát triển, thu hút dòng tiền đầu tư mới, góp phần tối đa hóa nguồn lực xã hội. b) Các sàn trên TTCK VN Hiện nay tại Việt Nam có 3 sàn chứng khoán phổ biến là sàn HSX, sàn HNX và sàn Upcom. Sàn HSX và HNX thực hiện các giao dịch chứng khoán đã niêm yết còn sàn Upcom dành cho những giao dịch chưa được niêm yết tại HSX và HNX. - Sàn chứng khoán HSX Sàn chứng khoán HSX còn được gọi là sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, là sàn đầu tiên ra đời vào tại Việt Nam vào năm 2000.
Sàn này trực thuộc ủy ban chứng khoán nhà nước và quản lý hệ thống giao dịch chứng khoán niêm yết tại Việt Nam. HSX là sàn được thành lập từ năm 2000 Những chứng khoán được niêm yết tại HSX đảm bảo được sự uy tín vì các công ty phát hành phải đạt được những điều kiện cực kỳ nghiêm ngặt. Ngoài ra, HSX còn chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước nên tính an toàn rất cao. - Sàn chứng khoán HNX HNX được gọi với tên khác là sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và được thành lập vào năm 2009.
Trách nhiệm chính của sàn này đó chính là tổ chức, quản lý việc giao dịch của thị trường chứng khoán. Sau khi thành lập, sàn HNX đã giành được sự tin tưởng của người tiêu dùng và trở thành sàn có uy tín cao nhất trên TTCK. Hiện nay, HNX có 74 công ty chứng khoán thành viên tham gia sàn để tìm kiếm những cơ hội huy động vốn. Nhà đầu tư có thể tìm kiếm được nhiều cơ hội đầu tư lớn thông qua sàn HNX.
Tại sàn này có nhiều sản phẩm dịch vụ như cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng khoán phái sinh,… 7 - Sàn chứng khoán Upcom Sàn chứng khoán Upcom được ra đời vào năm 2009 và có cơ quan quản lý là Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sàn này dành cho những chứng khoán chưa có đủ điều kiện để niêm yết tại sàn HSX và HNX. Bởi vì các quy định để niêm yết chứng khoán không quá khắt khe nên sàn Upcom được rất nhiều nhà đầu tư yêu thích. Chính vì thế mà số lượng giao dịch được thực hiện mỗi ngày tại sàn này rất lớn.
Giá trị doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng giá trị doanh nghiệp 1.1 Khái niệm giá trị doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp có thể hiểu là các biểu hiện bằng tài chính từ toàn bộ các khoản thu nhập các nhà đầu tư thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Giá trị doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là giá trị vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp mà là tổng giá trị của tất cả các tài sản hữu hình và tài sản vô hình sử dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó nhằm mang lại lợi ích cho các chủ sở hữu và các nhà cung cấp tín dụng. Một tài sản nếu để riêng biệt có thể không phát huy được giá trị sử dụng nhưng khi kết hợp với một tài sản khác lại có thể phát huy được giá trị sử dụng của chính tài sản đó. Giá trị của từng tài sản riêng rẽ được xác định dựa trên phần đóng góp của tài sản đó vào hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp nên không liên quan đến thị trường, không tính đến giá trị sử dụng tối ưu và tốt nhất của tài sản đó cũng như số tiền mà tài sản đó mang lại khi được mang ra bán.
Giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng của doanh nghiệp có xu hướng cao hơn giá trị thị trường của tài sản khi doanh nghiệp đang kinh doanh hiệu quả, thu được lợi nhuận cao hơn so với doanh nghiệp cùng sản xuất sản phẩm tương tự; ngược lại có xu hướng thấp hơn giá trị thị trường khi 8 doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng cũng có xu hướng cao hơn giá trị thị trường khi doanh nghiệp có bằng sáng chế, giấy phép, hợp đồng sản xuất những 5 sản phẩm đặc biệt, hoặc doanh nghiệp có uy tín đặc biệt, họăc các dạng tài sản thuộc sở hữu trí tuệ khác mà các doanh nghiệp cùng loại hình kinh doanh khác không có. Giá trị một doanh nghiệp có thể mang lại cho các nhà đầu tư có thể xem xét trên 2 góc độ: giá trị thanh lý vá giá trị hoạt động liên tục. Giá trị thanh lý của một doanh nghiệp là số tiền tạo ra khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động và bán tất cả các tài sản của nó, còn giá trị hoạt động liên tục là giá trị hiện tại của dòng tiền tạo ra trong tương lai từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Có thể thấy giá trị doanh nghiệp có nhiều cách tính, tuy nhiên trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng cách tính theo Tobin’s Q. Có hiểu giá trị doanh nghiệp thông qua công thức sau: Giá trị doanh nghiệp = Giá trị vốn hóa thị trường / Giá trị vốn chủ sở hữu 1.2 Các nghiên cứu có liên quan 1.1 Các lý thuyết có liên quan a) Lý thuyết của Modigliani và Miller Lý thuyết của Modigliani và Miller (1958) là lý thuyết đầu tiên nghiên cứu về cấu trúc vốn của doanh nghiệp và cũng là tiền đề cơ bản cho các lý thuyết sau này. Trái với quan điểm truyền thống, Modilligani và Mille đã tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn. Để chứng minh, Modilligani và Miller đã đưa ra một số những giả định đơn giản hoá rất phổ biến trong lý thuyết về tài chính: thị trường vốn là hoàn hảo, vì vậy sẽ không có các chi phí giao dịch và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ 9 cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí; việc đánh thuế được bỏ qua và nguy cơ được tính hoàn toàn bằng tính không ổn định của các luồng tiền.
- Mê ̣nh đề Modigliani và Miller 1: trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tất cả các kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả là như nhau. Hay nói cách khác, giá trị của một doanh nghiệp không phụ thuộc vào lượng cổ phần được phát hành mà chỉ phụ thuộc vào lượng tài sản của doanh nghiệp đó. Bất kỳ lựa chọn tài chính như thế nào, dù là sử dụng vốn chủ sở hữu hay lựa chọn nợ ngắn hạn hoặc dài hạn thì giá trị của doanh nghiệp là không thay đổi (Brealey và cộng sự, 1984). - Mệnh đề Modigliani và Miller 2 là sự phát triển từ mệnh đề số 1, đã minh chứng rằng chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) sẽ giống nhau ở mọi mức độ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu, do đó sẽ không đổi ngay cả khi công ty thay đổi cấu trúc vốn của họ.
b) Lý thuyết các bên liên quan (stakeholder theory) Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã được biết đến từ đầu những năm 1970.